(Chinhphu.vn) - Thông cáo báo chí của VPCP về thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 8/1/2020.
Xem xét, trả lời các kiến nghị của doanh nghiệp

Văn phòng Chính phủ vừa có văn bản 139/VPCP-ĐMDN truyền đạt ý kiến của Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ về việc xem xét, xử lý và trả lời các kiến nghị của doanh nghiệp được Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổng hợp.

Xét báo cáo của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam về tình hình thực hiện Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ trong tháng 11/2019, Phó Thủ tướng yêu cầu các cơ quan theo thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ được giao chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan để xem xét, xử lý và trả lời các kiến nghị của doanh nghiệp được Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện, đồng thời gửi Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam để tổng hợp theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, các kiến nghị cụ thể:

1. Công ty TNHH đầu tư thương mại SUNRISE kiến nghị UBND tỉnh Hà Tĩnh sớm giải quyết hồ sơ gia hạn quyết định thuê đất cho Công ty.

Cơ quan chủ trì: UBND tỉnh Hà Tĩnh.

2. Công ty TNHH Lixil Việt Nam, Công ty CP thương mại Viglacera, Công ty CP Ceravi, Công ty TNHH SXKD Sứ Hảo Cảnh, Công ty TNHH gạch men sứ Thanh Hải, Công ty CP gốm sứ Long Hầu, Công ty CP SX và KDTH Xuân Sinh, Công ty TNHH Sứ Đông Lâm kiến nghị về tình trạng các sản phẩm thiết bị vệ sinh, đặc biệt là sứ vệ sinh, sứ dân dụng được nhập khẩu ồ ạt từ Trung Quốc vào thị trường Việt Nam với số lượng lớn và giá bán thấp.

Cơ quan chủ trì: Bộ Xây dựng.

Tăng cường quản lý đất có nguồn gốc từ các nông, lâm trường quốc doanh

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng vừa ký quyết định phê duyệt "Đề án tăng cường quản lý đối với đất đai có nguồn gốc từ các nông, lâm trường quốc doanh hiện do các công ty nông nghiệp, công ty lâm nghiệp không thuộc diện sắp xếp lại theo Nghị định số 118/2014/NĐ-CP, ban quản lý rừng và các tổ chức sự nghiệp khác, hộ gia đình, cá nhân sử dụng".

Mục tiêu tổng quát của Đề án là tăng cường hiệu lực quản lý, hiệu quả sử dụng nguồn lực đất đai hiện do các công ty nông nghiệp, công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng, các tổ chức khác và hộ gia đình, cá nhân sử dụng có nguồn gốc từ các nông, lâm trường quốc doanh (nông, lâm trường).

Theo đó, về nhiệm vụ Trung ương tổ chức thực hiện, chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương; ban hành các văn bản liên quan đến xây dựng và tổ chức thực hiện Đề án trên phạm vi cả nước; xây dựng và thực hiện các phương án hỗ trợ về kỹ thuật và kinh phí đối với các địa phương; thực hiện các hoạt động kiểm soát, kiểm tra, thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật và xử lý các vi phạm đối với đất có nguồn gốc từ các nông, lâm trường.

Bên cạnh đó, thực hiện điều tra, thống kê quỹ đất các nông, lâm trường bàn giao về địa phương; tổng hợp tình hình quản lý, sử dụng đất; lập các báo cáo, đề xuất, văn bản chuyên đề về đất có nguồn gốc từ các nông, lâm trường và xây dựng bộ dữ liệu đối với đất có nguồn gốc từ các nông, lâm trường trên phạm vi cả nước; tích hợp dữ liệu địa chính đối với toàn bộ diện tích đất có nguồn gốc từ các nông, lâm trường vào cơ sở dữ liệu đất đai Trung ương; đề xuất các giải pháp, chính sách, phương án để xử lý những tồn tại, bất cập trong quản lý, sử dụng đất và tăng cường hiệu lực quản lý, hiệu quả sử dụng đất đai có nguồn gốc từ các nông, lâm trường trên phạm vi cả nước.

Về nhiệm vụ địa phương tổ chức thực hiện, thiết lập hệ thống bản đồ và hồ sơ kỹ thuật phản ánh chính xác, đầy đủ theo đúng hiện trạng ranh giới các loại đất; ranh giới đất thuộc tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân quản lý, sử dụng.

Rà soát, xác định rõ ràng về nguồn gốc sử dụng đất, hình thức sử dụng đất và tình hình sử dụng đất; xây dựng được phương án sử dụng đất, phương án quản lý, sử dụng quỹ đất các nông, lâm trường bàn giao về địa phương; hoàn thiện thủ tục, hồ sơ giao đất, cho thuê đất đồng bộ, thống nhất với kết quả xác định ranh giới trên thực địa và thực hiện phương án chuyển hình thức từ Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất sang hình thức Nhà nước cho thuê đất đối với diện tích đất phải chuyển sang thuê đất theo quy định của pháp luật.

Đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận, lập hồ sơ địa chính, xây dựng dữ liệu địa chính đối với đất có nguồn gốc từ các nông, lâm trường (bao gồm cả dữ liệu địa chính đối với đất của các công ty nông, lâm nghiệp thuộc diện sắp xếp theo Nghị định số 118/2014/NĐ-CP).

Tích hợp dữ liệu địa chính đối với đất có nguồn gốc từ các nông, lâm trường vào cơ sở dữ liệu đất đai địa phương; thực hiện các hoạt động kiểm soát, kiểm tra, thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật đối với đất có nguồn gốc từ các nông, lâm trường; giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm về quản lý, sử dụng đất có nguồn gốc từ các nông, lâm trường; thực hiện xử lý, thu hồi đất đai, tài sản gắn liền với đất và nghĩa vụ tài chính đất đai theo quy định của pháp luật; đề xuất các giải pháp, chính sách, phương án để xử lý những tồn tại, bất cập trong quản lý, sử dụng đất và tăng cường hiệu lực quản lý, hiệu quả sử dụng đất đai có nguồn gốc từ các nông, lâm trường tại địa phương.

Phê duyệt Chiến lược thủy lợi Việt Nam

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng vừa ký quyết định phê duyệt Chiến lược thủy lợi Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Mục tiêu cụ thể của Chiến lược về cấp nước, bảo đảm cấp nước cho sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp và đáp ứng nhu cầu của các ngành kinh tế-xã hội; cấp và tạo nguồn cho khu đô thị, công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ cao từ hệ thống công trình thủy lợi; đặc biệt quan tâm đến những vùng thường xuyên thiếu nước như Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, ĐBSCL; chú trọng bảo vệ môi trường và bảo vệ hệ sinh thái thủy sinh, phục vụ phát triển bền vững.

Đồng thời cấp nước chủ động cho diện tích đất trồng lúa 2 vụ với mức bảo đảm tưới 85%, trong đó đến năm 2030 có 30%, năm 2050 có 60% diện tích trồng lúa thực hiện phương thức canh tác tiên tiến; đến năm 2030 diện tích cây trồng cạn được tưới đạt 70%, trong đó tưới tiên tiến, tiết kiệm nước đạt 30%; đến năm 2050 đạt 100%, trong đó tưới tiên tiến, tiết kiệm nước đạt 60%.

Chủ động tiêu, thoát nước ra sông chính, tăng diện tích tiêu bằng động lực, bảo đảm tiêu thoát ở vùng đồng bằng, vùng trũng phục vụ dân sinh, nông nghiệp với tần suất từ 5-10%; đáp ứng yêu cầu tiêu, thoát cho khu đô thị tiêu vào hệ thống công trình thủy lợi.

Về phòng, chống thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu, chủ động ứng phó có hiệu quả với các tác động bất lợi của hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn, lũ, ngập lụt, úng, xói lở bờ sông, bờ biển...kết hợp hài hòa giữa giải pháp công trình và giải pháp phi công trình; bảo đảm an toàn trước các tác động bất lợi do thiên tai liên quan đến nước gây ra cho các đô thị, khu dân cư, hoạt động sản xuất trong điều kiện biến đổi khí hậu.

Chiến lược cũng đề ra các giải pháp chung như hoàn thiện cơ chế, chính sách, tăng cường thực thi pháp luật về thủy lợi; hoàn thiện tổ chức bộ máy; phát triển nguồn nhân lực; nâng cao chất lượng công tác quy hoạch; tăng cường đầu tư phát triển hạ tầng thủy lợi; nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác; giải pháp cho từng khu vực: Trung du miền núi Bắc Bộ, đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì xây dựng kế hoạch hành động, chương trình, đề án và tổng hợp các nội dung đề xuất thực hiện Chiến lược từ các Bộ, ngành, địa phương hàng năm, năm năm; rà soát, xây dựng cơ chế, chính sách quản lý, hướng dẫn, hỗ trợ, đôn đốc thực hiện Chiến lược.

Chương trình trọng điểm điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng vừa ký quyết định phê duyệt Chương trình trọng điểm điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo đến năm 2030.

Mục tiêu đến năm 2030, tối thiểu 50% diện tích vùng biển và hải đảo Việt Nam được khảo sát, điều tra, phân tích, đánh giá về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo ở tỉ lệ 1:500.000 và điều tra ở tỷ lệ lớn đối với một số khu vực trọng điểm.

Giai đoạn 2020-2025, một trong các nhiệm vụ của Chương trình là điều tra tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội, văn minh sinh thái biển nhằm có được các số liệu, dữ liệu về khí tượng, hải văn, môi trường, động đất, sóng thần... phục vụ quy hoạch, khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên biển; xây dựng, thiết kế các công trình trên biển, đánh giá các tác động của yếu tố tự nhiên tới các công trình biển, quá trình xâm nhập mặn, suy thoái môi trường biển, phát triển bền vững kinh tế biển, bảo vệ quốc phòng, an ninh trên biển, ứng phó với biến đổi  khí hậu, nước biển dâng.

Đo đạc, thành lập, hệ thống hóa bản đồ địa hình đáy biển tỷ lệ lớn 1:10.000 một số khu vực trọng điểm, tỉ lệ trung bình 1:50.000 vùng biển ven bờ và tỉ lệ nhỏ 1:250.000, 1:500.000 trên toàn bộ vùng biển Việt Nam.

Điều tra tổng thể đa dạng sinh học và nguồn lợi hải sản ở tỉ lệ nhỏ vùng biển sâu, điều tra chi tiết tại các bãi cạn, gò đồi ngầm; tiến hành điều tra định kỳ nguồn lợi hải sản và môi trường sống của loài hải sản, các loại tài nguyên và các yếu tố môi trường có tính biến động theo quy định pháp luật.

Điều tra cơ bản kết hợp với nghiên cứu khoa học đánh giá tiềm năng tài nguyên vị thế, năng lượng gió, năng lượng mặt trời, năng lượng sóng, thủy triều, sinh dược học biển và các nguồn tài nguyên khác;...

Giai đoạn 2026-2030, điều tra cơ bản kết hợp với nghiên cứu khoa học biển, phát huy vai trò của khoa học và công nghệ trong việc thúc đẩy, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác điều tra cơ bản tài nguyên và môi trường biển và hải đảo về quy luật phân bố và nguồn gốc thành tạo các khoáng sản biển (khí hydrate, sa khoáng,...), cổ khí hậu, cổ đại dương, chế độ thủy thạch động lực, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường tới các hệ sinh thái,...

Tiếp tục điều tra đánh giá định kỳ một số yếu tố tự nhiên, tài nguyên có tính biến động cao như: hải dương học, khí tượng thủy văn, tài nguyên sinh vật, hệ sinh thái, môi trường biển và hải đảo; điều tra, đánh giá chi tiết tiềm năng, trữ lượng một số tài nguyên, khoáng sản biển, các loại tài nguyên mới phục vụ việc khai thác và sử dụng bền vững các loại tài nguyên biển.

Tăng cường hợp tác quốc tế trong điều tra, nghiên cứu những vấn đề mang tính khu vực và quốc tế như: ứng phó biến đổi khí hậu, nước biển dâng, rác thải xuyên biên giới, cảnh báo động đất, sóng thần, ô nhiễm, suy thoái môi trường biển, cổ khí hậu, cổ đại dương, chuỗi, lưới thức ăn, ăn mòn khí quyển và nước mặn đối với các công trình trên biển và ven biển.

Thành lập Hội đồng thẩm định nhiệm vụ lập Quy hoạch bảo vệ và khai thác nguồn lợi thủy sản

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng vừa ký quyết định thành lập Hội đồng thẩm định nhiệm vụ lập Quy hoạch bảo vệ và khai thác nguồn lợi thủy sản thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Phùng Đức Tiến làm Chủ tịch Hội đồng.

Các Phó Chủ tịch Hội đồng gồm: Ông Nguyễn Văn Việt, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; ông Trần Đình Luân, Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Các thành viên Hội đồng, gồm: Đại diện Văn phòng Chính phủ; đại diện Bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Xây dựng,  Tài nguyên và Môi trường, Khoa học và Công nghệ, Quốc phòng,  Công an; Tổng thư ký Hội nghề cá Việt Nam; Viện trưởng Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; đại diện lãnh đạo Viện Nghiên cứu Hải sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; đại diện lãnh đạo Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; chuyên gia về quy hoạch thủy sản: PGS.TS. Nguyễn Chu Hồi- nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam; TS. Trần Đức Phú-Viện trưởng Viện Khoa học và công nghệ khai thác thủy sản-Đại học Nha Trang.

Cơ quan thường trực của Hội đồng là Vụ Kế hoạch thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Hội đồng có nhiệm vụ xem xét, thẩm định nhiệm vụ lập Quy hoạch bảo vệ và khai thác nguồn lợi thủy sản thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; chịu trách nhiệm về kết quả thẩm định, lập báo cáo thẩm định để kèm theo Tờ trình của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm căn cứ để Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch theo quy định.

* Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng cũng đã ký quyết định thành lập Hội đồng thẩm định nhiệm vụ lập Quy hoạch hệ thống cảng cá, khu neo đậu cho tàu cá thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Sửa đổi, bổ sung Danh sách Ủy viên Ủy ban quốc gia ASEAN 2020

Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh-Chủ tịch Ủy ban Quốc gia ASEAN 2020 vừa ký quyết định sửa đổi, bổ sung Danh sách Ủy viên Ủy ban Quốc gia ASEAN 2020.

Cụ thể, sửa đổi Danh sách Ủy viên Ủy ban Quốc gia ASEAN 2020, như sau: Thứ trưởng Bộ Giao thông vận tải Lê Anh Tuấn thay ông Nguyễn Ngọc Đông; Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Vũ Đại Thắng thay ông Lê Quang Mạnh; Phó Chủ tịch Liên hiệp Các Tổ chức hữu nghị Việt Nam Phan Anh Sơn thay ông Đôn Tuấn Phong.

Bổ sung Danh sách Ủy viên Ủy ban Quốc gia ASEAN 2020, gồm: Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Ngô Văn Quý; Phó Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng Hồ Kỳ Minh; Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam Đặng Hồng Anh.

Theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ thành lập Ủy ban Quốc gia chuẩn bị và thực hiện vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2020 của Việt Nam, Ủy ban có nhiệm vụ nghiên cứu, đề xuất với Thủ tướng Chính phủ phương hướng, giải pháp để giải quyết các vấn đề liên quan đến nhiệm kỳ Chủ tịch ASEAN 2020 của Việt Nam.

Đồng thời giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, điều phối, phối hợp giữa các bộ, cơ quan, địa phương liên quan trong việc giải quyết những vấn đề liên quan; giúp Thủ tướng Chính phủ đôn đốc các bộ, cơ quan, địa phương liên quan trong việc thực hiện các nhiệm vụ, vấn đề liên quan đến nhiệm kỳ Chủ tịch ASEAN 2020 của Việt Nam./.