(Chinhphu.vn) - Chiều 13/6, Bộ trưởng Bộ LĐTBXH Phạm Thị Hải Chuyền đã tập trung trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội về các vấn đề giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, đồng bào dân tộc thiểu số, xuất khẩu lao động, chính sách người có công… Cổng TTĐT Chính phủ xin giới thiệu nội dung trả lời chất vấn này.

Bộ trưởng LĐTBXH Phạm Thị Hải Chuyền trả lời chất vấn.

Đại biểu Trần Quốc Tuấn (đoàn Trà Vinh): Tôi cùng rất nhiều cử tri đánh giá rất cao sự đóng góp của ngành LĐTBXH trong phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Trong phiên chất vấn này tôi xin phép được gửi đến Bộ trưởng 2 câu hỏi như sau. Câu thứ nhất, về khai thác hiệu quả nguồn lực đầu tư trong công tác dạy nghề. Thời gian qua Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến lĩnh vực dạy nghề, giải quyết việc làm cho người lao động, nhiều chương trình, dự án đã được triển khai, nhiều cơ sở vật chất, trang thiết bị được đầu tư cho các trường nghề tại các địa phương. Tuy nhiên hiện nay các nguồn lực này đang bộc lộ những hạn chế, bất cập, không phát huy được hiệu quả và có nguy cơ lãng phí chỉ với một lý do duy nhất là có trường, có thầy nhưng lại thiếu trò. Một trong những nguyên nhân dẫn đến hậu quả trên là vì tay nghề của các học viên sau khi được đào tạo không đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp, người sử dụng lao động. Mặc dù đã được học nghề nhưng khi doanh nghiệp nhận vào vẫn phải đào tạo lại nên người học không ham muốn học nghề. Với vai trò là người trực tiếp tham mưu cho Chính phủ trong lĩnh vực này, Bộ trưởng có giải pháp gì để vừa khai thác tốt nhất hiệu quả các nguồn lực đầu tư của Nhà nước tại các trường nghề nhưng cũng vừa đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp trong sử dụng lao động hiện nay?

Câu hỏi thứ hai, về thực hiện xã hội hóa công tác dạy nghề. Kính thưa Bộ trưởng, chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với hoạt động trong lĩnh vực dạy nghề đã được Chính phủ ban hành tại Nghị định 69 ngày 30/5/2008. Nhưng đến nay việc thực hiện xã hội hóa lĩnh vực dạy nghề còn khá mờ nhạt. Xin Bộ trưởng cho biết nguyên nhân do đâu? Với vai trò là người đứng đầu ngành LĐTBXH, Bộ trưởng sẽ tham mưu cho Chính phủ chỉ đạo triển khai thực hiện các giải pháp nào để có thể thu hút mạnh các nhà đầu tư thực hiện xã hội hóa công tác dạy nghề nhằm góp phần giảm bớt gánh nặng cho ngân sách quốc gia hiện nay?

Đại biểu Nguyễn Minh Lâm (đoàn Long An): Tôi xin gửi đến Bộ trưởng một câu hỏi đang được cử tri quan tâm như sau. Trong thời gian qua, công tác đào tạo lao động nông nghiệp, nông thôn hiệu quả chưa cao, phần lớn đào tạo nâng cao tay nghề chưa thực sự để giải quyết việc làm mới. Đào tạo nghề chưa phù hợp với nhu cầu xã hội, cơ sở vật chất xây dựng thiếu tập trung, chưa tương xứng với số lượng người học, gây lãng phí. Công tác quản lý lao động tự do tại các tỉnh biên giới, lao động phổ thông người nước ngoài còn buông lỏng. Trách nhiệm của Bộ trưởng đối với vấn đề trên như thế nào? Bộ trưởng có giải pháp gì trong thời gian tới để giải quyết những hạn chế trên?

Đại biểu Nguyễn Văn Tuyết (đoàn Bà Rịa-Vũng Tàu): Tôi xin gửi đến Bộ trưởng 2 câu hỏi. Thứ nhất, theo báo cáo điều tra lao động và việc làm của Tổng cục Thống kê, đến thời điểm 1/1/2013, cả nước có 1.326.800 người thiếu việc làm và 857.400 người thất nghiệp trong tổng số lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên. Điều đáng quan tâm là có tới 83,3% số người thiếu việc làm đang sinh sống ở khu vực nông thôn. Xin Bộ trưởng cho biết công tác đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm cho lao động nông thôn còn những bất cập và tồn tại hạn chế gì? Nguyên nhân và những giải pháp khắc phục của Bộ trưởng.

Câu hỏi thứ hai, tại cuộc họp chiều ngày 14/5/2013 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Thứ trưởng Bộ LĐTBXH có nói là theo các chuyên gia kinh tế thì lạm phát cũng như suy thoái kinh tế không ảnh hưởng nhiều đến đời sống của người nghèo. Thưa Bộ trưởng, đây là quan điểm của Thứ trưởng hay quan điểm của cả Bộ trưởng hay của lãnh đạo Bộ? Nếu là quan điểm đúng thì xin Bộ trưởng phân tích rõ thêm vấn đề này và nếu không đúng thì Bộ trưởng sẽ xác định trách nhiệm của mình với tư cách người đứng đầu như thế nào?

Đại biểu Ly Kiều Vân (đoàn Quảng Trị): Tôi xin gửi đến Bộ trưởng 2 câu hỏi. Câu hỏi thứ nhất đó là vấn đề người Việt Nam làm việc bất hợp pháp tại nước ngoài đang được cử tri quan tâm, trong đó có lao động thuộc 62 huyện nghèo theo Nghị quyết 30a của Chính phủ, chính quyền địa phương không có thông tin và không quản lý được số lao động này, làm cho việc quản lý lao động ở địa phương gặp khó khăn. Hiện nay, Bộ mới đang giải quyết số lao động làm việc ở Ả-rập Xê-út, còn đối với các nước khác Bộ cho rằng đều thực hiện các biện pháp để người lao động được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp, trong khi đó việc xử lý và giải quyết vấn đề này ở các nước là hoàn toàn khác nhau. Xin Bộ trưởng cho biết hướng giải quyết về vấn đề này như thế nào?

Câu hỏi thứ hai, theo Quyết định 71 của Thủ tướng Chính phủ thì chỉ tiêu xuất khẩu lao động giai đoạn 2009-2010 thực hiện thí điểm đưa 10.000 lao động ở các huyện nghèo đi làm việc ở nước ngoài, giai đoạn 2011-2015 đưa 50.000 lao động của các huyện nghèo đi làm việc ở nước ngoài, giai đoạn 2006-2020 tăng 15% tổng số người đi làm việc ở nước ngoài so với giai đoạn 2011-2015. Nhưng thực tế, đến nay sau gần 4 năm thực hiện đề án, theo thông tin từ Bộ mới chỉ có gần 10.000 lao động thuộc huyện nghèo xuất khẩu, có những lao động đã có chứng chỉ học tiếng. Tuy nhiên, họ phải chờ một thời gian khá lâu nhưng vẫn chưa xuất cảnh được, trong lúc đó họ phải vay ngân hàng hàng chục triệu đồng để chi phí cho việc làm thủ tục xuất cảnh và bên cạnh đó, số lao động về nước trước thời hạn lại gia tăng. Tất cả những người lao động này đang phải chịu gánh nặng, họ đã trở thành con nợ của ngân hàng và ngân hàng đang gặp khó khăn, vì không thu được nợ. Xin Bộ trưởng cho biết trách nhiệm này thuộc về ai? Với thực tế xuất khẩu lao động ở các huyện nghèo như hiện nay thì chỉ tiêu đề án đặt ra có đạt được theo như kế hoạch hay không và hướng giải quyết của Bộ trưởng về vấn đề này như thế nào?

Đại biểu Nguyễn Thành Tâm (đoàn Tây Ninh): Tôi có 2 vấn đề, xin phép được trao đổi. Về đào tạo nghề cho lao động, đã có đại biểu phát biểu trước, tôi chỉ xin đề nghị Bộ trưởng làm rõ thêm là hiện nay về quản lý đào tạo nghề thì có 2 Bộ đang quản lý là Bộ LĐTBXH và Bộ Giáo dục và Đào tạo dẫn đến tình trạng trùng trong nội dung quản lý và nó dẫn đến các hệ lụy là việc đầu tư cơ sở vật chất cho đào tạo nghề bị phân tán, cụ thể hiện nay là ở cấp huyện thì vừa đào tạo nghề ở Trung tâm giáo dục thường xuyên, đồng thời là các Trung tâm dạy nghề. Đây là nguy cơ lãng phí rất lớn, trong khi đó người học thì học không nhiều và đầu tư không tới nơi, tới chốn. Đề nghị Bộ trưởng cho biết quan điểm của mình về việc xử lý vấn đề này như thế nào? Trước đây Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã đồng ý với chủ trương nên đề nghị thống nhất quản lý đào tạo nghề lại.

Về vấn đề quản lý đào tạo nghề giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ LĐTBXH có trùng giẫm. Hiện nay hai Bộ này đang chỉ đạo triển khai đầu tư Trung tâm Giáo dục thường xuyên cũng như Trung tâm dạy nghề ở cấp huyện và nguy cơ lãng phí ở đây rất lớn. Đề nghị Bộ cho ý kiến quan điểm của mình về việc chấn chỉnh việc quản lý đào tạo nó trùng giẫm như thế này?

Vấn đề thứ hai, đề nghị Bộ cho biết định hướng của Bộ trong việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho yêu cầu tái cơ cấu nền kinh tế hiện nay như thế nào? Vì tái cơ cấu kinh tế đặt ra rồi nhưng vấn đề tái cơ cấu nguồn nhân lực hiện nay chưa rõ. Với vai trò tham mưu về lĩnh vực nhân lực lao động thì Bộ có giải pháp gì để thực hiện trong ngắn hạn cũng như trong dài hạn?

Vấn đề thứ hai, về chế độ chính sách đối với những người nghỉ hưu, vấn đề này đã đặt ra rất nhiều lần là nhiều người nghỉ hưu trước những năm 1990 do cơ chế tiền lương lúc đó hệ số lương rất thấp, cho nên khi về hưu, mức lương được hưởng thấp hơn so với những người về hưu sau này mức lương cao hơn và dẫn đến tình trạng chênh lệch mức thu nhập giữa những người về hưu trước và những người về hưu sau, giai đoạn do hai chính sách khác nhau rất lớn. Cử tri phản ánh rất nhiều về việc này. Thời gian qua cũng điều chỉnh nhưng điều chỉnh không căn cơ, vì hệ số lương hưởng đã chênh lệch và mỗi lần điều chỉnh mức lương tối thiểu thì mức chênh lệch ngày càng cao hơn. Do đó với góc độ là cơ quan tham mưu, Bộ có ý kiến như thế nào về đề nghị của các cử tri, đặc biệt những cử tri lớn tuổi về hưu trước đây trong việc giải quyết bất cập này?

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng: Tức là lương hưu người về trước thì thấp, người về sau lương hưu cao, có mâu thuẫn ở trong xã hội, giải thích thế nào?

Đại biểu Bạch Thị Hương Thủy (đoàn Hòa Bình): Trong báo cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã được Trưởng Ban Dân nguyện trình bày ngày hôm qua, một lần nữa đời sống khó khăn của đồng bào hậu thủy điện lại được nhắc đến. Dự án ổn định và nâng cao đời sống dân cư vùng lòng hồ sông Đà với mục tiêu tốt đẹp là có cơ sở hạ tầng hoàn thiện, đồng bào được hưởng mức sống ngang bằng với các địa phương khác trong tỉnh. Tuy nhiên trải qua hai giai đoạn thực hiện, mục tiêu này xem ra còn xa vời. Hiện nay dân số ngày càng tăng, đất ở, đất sản xuất không còn, sức ép về việc làm đè nặng lên mỗi gia đình và các cấp chính quyền. Tôi xin hỏi trong thời gian tới, Bộ trưởng có giải pháp gì để hỗ trợ việc làm cho lao động ở vùng nông thôn nói chung và đồng bào vùng tái định cư thủy điện khi Nhà nước thu hồi đất?

Đại biểu Phương Thị Thanh (đoàn Bắc Kạn): Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công đã có hiệu lực từ ngày 1/9/2012, Chính phủ đã ban hành Nghị định 31, nhưng đến nay Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội chưa ban hành văn bản hướng dẫn về quy trình xác định trình tự, thủ tục, hồ sơ xác định người bị nhiễm chất độc hóa học và các địa phương thì đang rất trông chờ ở văn bản hướng dẫn của Bộ. Xin được hỏi Bộ trưởng, trách nhiệm của Bộ trưởng về việc chậm ban hành văn bản hướng dẫn nêu trên.

Thứ hai, hướng giải quyết của Bộ đối với các trường hợp người bị nhiễm chất độc hóa học bị thất lạc hồ sơ, hoặc hồ sơ bị cháy do lỗi của cơ quan có thẩm quyền hoặc là các trường hợp không còn giấy tờ gốc chứng minh thời gian tham gia kháng chiến ở vùng quân đội Mỹ sử dụng chất độc hóa học vì đơn vị cũ đã giải thể.

Bộ trưởng Phạm Thị Hải Chuyền: Trên cơ sở ý kiến của đại biểu Quốc hội, tôi xin được lần lượt trả lời từng ý kiến của đại biểu Quốc hội nêu.

Thứ nhất, về tình hình khai thác thực hiện đầu tư trong lĩnh vực dạy nghề đến nay thấy hiệu quả chưa cao và thấy rằng là trách nhiệm của Bộ và hướng tới giải quyết như thế nào, ý kiến của đại biểu Trần Quốc Tuấn, tỉnh Trà Vinh. Tôi xin được trả lời như sau.

Thưa đại biểu Quốc hội, vấn đề dạy nghề cho lao động nói chung và dạy nghề cho lao động nông thôn, một trong những mục tiêu Đảng đã nêu ra để đảm bảo nguồn nhân lực cho phát triển đến năm 2020 nước ta cơ bản thành nước công nghiệp. Để đạt được mục tiêu đó, công tác dạy nghề những năm trước đây cũng đã được đầu tư. Tuy nhiên từ sau khi có chiến lược về nguồn nhân lực, đặc biệt quy hoạch về phát triển mạng lưới dạy nghề, do yêu cầu của nguồn nhân lực cho đất nước thì những năm gần đây lĩnh vực đầu tư cho cơ sở dạy nghề được tăng cường hơn. Chính vì vậy, số đơn vị, số cơ sở dạy nghề trong toàn quốc đến nay đã trên 1.000 đơn vị. Trong đó công lập trên 800, doanh nghiệp trên 70, cơ sở dạy nghề ngoài công lập của tư thục cũng trên 400 cơ sở. Trách nhiệm của Bộ với trách nhiệm quản lý Nhà nước, chúng tôi thấy phải hướng dẫn triển khai sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đã đầu tư. Những năm vừa rồi chúng tôi đã thực hiện chương trình hướng dẫn các địa phương triển khai thực hiện chương trình này thông qua đề án đổi mới dạy nghề, trong đó có nội dung đầu tư hạ tầng cơ sở cho dạy nghề như ý kiến đại biểu Tuấn tôi thấy có một ý kiến đúng. Vừa rồi để thực hiện trách nhiệm quản lý Nhà nước, Bộ cũng đã đi kiểm tra 10 tỉnh, thấy rằng hiện nay một số đơn vị trong đầu tư còn chưa đồng bộ, cũng còn một số trường khi đã được đầu tư rồi nhưng đội ngũ giáo viên cơ hữu còn thiếu.

Trước tình hình đó, một mặt chúng tôi yêu cầu các địa phương đã quyết định đầu tư thì phải đầu tư cho đồng bộ cả cơ sở vật chất, thiết bị và đội ngũ giáo viên. Phía Nhà nước chỉ hỗ trợ một phần kinh phí cho đầu tư lĩnh vực này. Tuy nhiên do nhiều lý do khác nhau một số địa phương đầu tư chưa được đồng bộ, ảnh hưởng đến việc khai thác cơ sở này.

Một ý đại biểu quan tâm chính là cơ sở được đầu tư nhưng số học sinh học nghề chưa nhiều, như vậy có lãng phí cơ sở vật chất không? Xin báo cáo với Quốc hội, trong lĩnh vực dạy nghề và thời gian gần đây chúng ta biết từ nhận thức trong dân cũng như trong các bạn trẻ về phân luồng sau đại học. Sau học phổ thông thì phần đông muốn vào các trường trung cấp chuyên nghiệp trở lên đến đại học và tư tưởng vào học nghề để lao động trực tiếp thì chưa được thông suốt trong phụ huynh cũng như các em học sinh mới kết thúc khóa học phổ thông. Chính vì vậy mà tỷ lệ vào các trường cũng chưa nhiều và có một yếu tố đúng như đại biểu nêu là do điều kiện hiện có của các trường nên giữa nội dung đào tạo, cơ sở vật chất để đào tạo cũng còn chưa đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp. Nhưng các đại biểu biết rằng cá biệt có những nơi, ví dụ sáng hôm nay chúng ta nghe bản tin buổi sáng ở Bắc Ninh có nêu là một doanh nghiệp của Nhật chỉ muốn tuyển lao động phổ thông để người ta đào tạo, chứ người ta thấy nghề của mình không phù hợp thì điều đó cũng là một thực tế. Bởi hiện nay, chúng ta đang đào tạo cái chúng ta đang có, tức là cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên và thiết bị, nhưng nghề mà các doanh nghiệp mới đến thì chúng ta cũng chưa cập nhật được ngay, không phải doanh nghiệp nào cũng dùng. Mà các doanh nghiệp đầu tư ở nước ngoài họ vào phần đông họ sử dụng lao động phổ thông là nhiều hơn, còn lao động kỹ thuật cao theo quy định thì họ lại được mang lao động kỹ thuật cao của nước họ đến và lao động phổ thông thì họ cũng phải có hướng dẫn một thời gian nhất định. Chính vì vậy mà các doanh nghiệp của nước ngoài phải chọn học sinh hết lớp 12 họ đào tạo thêm thì tôi nghĩ việc đó cũng phù hợp với thực tiễn hiện nay của các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư tại Việt Nam.

Trách nhiệm của Bộ về vấn đề này và tới đây thế nào thì báo cáo với Quốc hội, chúng tôi thấy trách nhiệm của mình rất lớn, mặc dù chỉ là cơ quan tham mưu hoạch định chính sách, hướng dẫn triển khai, kiểm tra đôn đốc. Nhưng dù sao cũng là trách nhiệm của ngành trong việc hướng dẫn triển khai và kiểm tra nhắc nhở. Chính vì vậy thông qua kiểm tra vừa rồi, tới đây chúng tôi sẽ đề xuất với Chính phủ 2 nội dung, đào tạo nghề cho lao động nông thôn thì sẽ sơ kết 3 năm thực hiện vấn đề này và những vấn đề bất cập từ đầu tư cơ sở hạ tầng, từ đầu tư trang thiết bị, đội ngũ giáo viên và phương pháp đào tạo.

Thứ hai là chúng tôi có chỉ đạo hệ thống ngành dọc của mình, đó là các trường nghề phải gắn với thị trường lao động, tất cả các trường của từng địa phương thì phải bám sát với các doanh nghiệp quanh khu vực mình họ cần gì để đào tạo, trên cơ sở cái mình đã có. Tất nhiên, những cái người ta cần mình không có thì phải chịu. Rất nhiều trường vừa rồi tôi đi kiểm tra làm việc này rất tốt, ví dụ Trường Cao đẳng nghề số 3 của Hải Phòng, của Quân khu 3, hay Trường Cao đẳng nghề của Quân khu 1, tôi đến thấy các đồng chí bám sát vào nhu cầu các doanh nghiệp khu vực đó để đào tạo, khi học sinh học xong các anh đưa đến các địa chỉ đó thực tập. Chính vì vậy, các anh nói là 70-80% những người được đào tạo xong là có việc làm, phần đông những trường này đều là những đồng chí đã hoàn thành thực hiện nghĩa vụ quân sự.

Bây giờ một số cơ sở dạy nghề chúng tôi có chỉ đạo là phải hình thành một bộ phận mang tính chất tư vấn, tiếp thị, tức là phải nắm nhu cầu thị trường để quyết định định hướng đào tạo cho trường. Tôi nghĩ rằng nhiều doanh nghiệp dạy nghề làm được như vậy sẽ chuyển được là ta sẽ dạy nghề phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp cần và đáp ứng được người lao động được đào tạo xong thì có nghề để làm.

Thứ hai, xã hội hóa về dạy nghề. Chúng tôi rất ý thức vấn đề này, trong công tác dạy nghề, trong phạm vi quản lý Nhà nước như tôi nói chỉ có trên 800 trường, nhưng các doanh nghiệp cũng có 76 trường nghề của doanh nghiệp, đây gọi là xã hội hóa thì không hẳn, nhưng như vậy đã khuyến khích các doanh nghiệp. Các đồng chí biết là doanh nghiệp được để lại 30% lợi nhuận sau thuế cho quỹ của họ, họ chia cho quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ để phát triển sản xuất, nhiều doanh nghiệp dùng quỹ phát triển sản xuất này để đầu tư cho dạy nghề, phù hợp với ngành của họ. Đối với doanh nghiệp đủ điều kiện thành lập thì chúng tôi tạo mọi điều kiện với trách nhiệm là cơ quan quản lý, cho phép thành lập các trường nghề trên cơ sở các địa phương và bản thân doanh nghiệp đề nghị. Đến nay có trên 400 trường nghề của tư nhân, tôi nghĩ đó là tinh thần xã hội hóa rất tốt.

Tuy nhiên, ở đây các đồng chí có so sánh sợ rằng trường công lập được đầu tư, được ưu tiên về đất đai, được hỗ trợ một phần về kinh phí mua sắm thiết bị, còn các trường tư về cơ chế đất cũng được các địa phương tạo điều kiện để các doanh nghiệp được thành lập, nhưng việc hỗ trợ về tài chính ngân sách cho cơ chế để thu chi trong các trường này tôi nghĩ rằng vừa rồi cũng có một số trường dân lập, các đồng chí cũng đã hoạt động tốt, như vậy gọi là xã hội hóa.

Thứ hai, cùng với việc đó, để đáp ứng được nguồn nhân lực cho giai đoạn hiện nay, Bộ còn liên kết với các tổ chức quốc tế như với Đức, Hàn Quốc, Nhật Bản để tổ chức các trường dạy nghề mà họ đưa cả nhân lực, cả thiết bị sang đào tạo nghề ở tại Việt Nam cho người Việt Nam nhưng làm việc cho doanh nghiệp của họ.

Đấy là những cách thời gian vừa rồi tôi thấy làm bước đầu cũng có hiệu quả. Tuy nhiên, tiếp thu ý kiến của đại biểu là để sử dụng có hiệu quả cơ sở đã được trang bị phải đầu tư đồng bộ hơn, thứ hai nữa là phải chuẩn bị kỹ hơn để làm thế nào để tổ chức đào tạo tốt hơn, để khai thác hết nguồn lực đã đầu tư cho các cơ sở dạy nghề này.

Ý kiến thứ hai nữa là đại biểu Nguyễn Minh Lâm ở Long An nói là đào tạo nghề cho lao động nông thôn thì vấn đề lao động tự do và trách nhiệm của Bộ trưởng và giải pháp.

Riêng vấn đề đào tạo nghề tôi nói chung, còn đào tạo để cho lao động nông thôn thì báo cáo với đại biểu Quốc hội, như các đại biểu biết rằng hiện nay chúng ta có trên 70% người dân sống ở khu vực nông thôn. Phần đông những người sống ở khu vực này là những người không hoặc chưa được đào tạo. Họ vẫn làm bằng kinh nghiệm sẵn có. Chính vì vậy, để khai thác cơ sở vật chất đã có, ví dụ như là trên cơ sở về đất đai cũng như là phương tiện đã có ở địa phương thì rất cần sự hỗ trợ từ phía Nhà nước nhằm giúp họ có một kỹ năng nghề nhất định để đưa năng suất, chất lượng các sản phẩm của họ tốt hơn. Chính vì vậy, Quyết định 1956 ra đời nhằm mục tiêu cơ bản là mục tiêu đó.

Thứ hai, bản thân trong nông thôn thì các hoạt động dịch vụ cũng đã xuất hiện. Và cũng rất cần một bộ phận người lao động có nghề, có trình độ làm những dịch vụ, từng địa phương. Chính vì vậy, đào tạo dịch vụ cũng có.  Thứ ba, trong địa bàn nông thôn có rất nhiều làng nghề và không phải lao động nào cũng tự đến làng nghề học được nếu như không có hỗ trợ từ phía Nhà nước.

Thời gian vừa rồi, để đáp ứng yêu cầu đào tạo đó, Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định 1956 cho dạy nghề nông thôn. Chúng tôi đánh giá, để đánh giá vấn đề kết quả dạy nghề lao động cho nông thôn thì chúng tôi đã tổ chức hội nghị ở 3 vùng. Chúng tôi thấy rằng nhìn chung là hiệu quả.

Tuy nhiên, tiếp thu ý kiến đại biểu, cũng còn nơi này, nơi khác, cách thức tổ chức chưa hiệu quả, chính vì vậy cần phải được xem xét. Chúng tôi đã tham mưu cho Chính phủ và trực tiếp là Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã chỉ đạo là đến tháng 6 này sẽ đánh giá 3 năm thực hiện chủ trương dạy nghề cho lao động nông thôn. Trên cơ sở những phần được thì phát huy, những phần chưa được thì ngoài ý kiến chủ quan của cơ quan quản lý Nhà nước, cần lắng nghe ý kiến của đại biểu Quốc hội và cử tri để xem xét tới đây sẽ đề nghị sửa cái gì trong Quyết định 1956 về đào tạo nghề cho lao động nông thôn.

Còn một ý nữa đại biểu Nguyễn Minh Lâm ở Long An nêu về quản lý lao động tự do, đây cũng là một vấn đề ở vùng biên giới.

Báo cáo với đại biểu Quốc hội, lao động tự do ở các địa giới hành chính giáp biên như giáp với Trung Quốc, Lào, Campuchia, tình hình lao động tự do của nhân dân ở những vùng biên giới ấy không phải hôm nay mà chắc chúng ta cũng thấy rằng đã có từ lâu, do mối quan hệ thân quen, do điều kiện kinh tế-xã hội ở gần cũng tương tự giống nhau. Lao động này phần đông là lao động ở tại đó, không phải lao động có chuyên môn mà lao động đi làm việc theo mùa vụ và theo từng công việc cụ thể, chúng ta sang các nước bạn và lao động bên nước bạn cũng sang chúng ta.

Năm kia tôi vào Tây Ninh, các đồng chí cũng nói chúng ta phải sử dụng lao động của Campuchia để giúp cho chúng ta trong thời vụ thu hái sản phẩm và hiện tại chúng ta cũng sang Trung Quốc, sang Lào. Vậy cách quản lý ở đây thế nào? Trách nhiệm quản lý Nhà nước phải đến đâu?

Báo cáo các đại biểu Quốc hội, vừa rồi lượng lao động của chúng ta sang các nước bạn cũng như các nước bạn về chúng ta lao động tự do ở những đơn vị giáp biên cũng đông. Chính vì vậy, chúng tôi đã tham mưu cho Chính phủ xây dựng một quy định thống nhất giữa phía Việt Nam với phía Trung Quốc là nên thống nhất quản lý những lao động tự do này. Phương án xây dựng ấy chúng tôi đã được trình, tất nhiên tới đây còn xin ý kiến của các bộ, ngành để thống nhất quản lý. Mặt khác chúng tôi cũng đã rà soát nắm tình hình này và cùng với Hà Giang đã tổ chức Hội nghị cho 4 huyện giáp đường biên. Chúng tôi có dự Hội nghị ở tại Lạng Sơn bàn về vấn đề quản lý lao động này.

Chúng tôi hy vọng từ ý kiến của đại biểu Quốc hội và của cử tri cả nước, chúng tôi xin tiếp thu để tới đây hoàn thiện để tham mưu về quy định trong phạm vi quản lý lao động vùng biên cho phù hợp, tất nhiên việc này không chỉ ngành lao động, như các đồng chí biết rồi, nếu xuất cảnh lại còn cả công an, còn cả ngoại giao v.v... Tới đây chúng tôi sẽ tiếp tục và nghiên cứu thêm để khi Chính phủ cho ý kiến hoặc Thủ tướng cho ý kiến thì chúng tôi sẽ báo cáo với Quốc hội vào kỳ sau.

Ý kiến của đại biểu Nguyễn Văn Tuyết  (Bà Rịa-Vũng Tàu).

Thứ nhất là thiếu việc làm, thất nghiệp. Xin cho biết là đào tạo nghề gắn với việc làm thế nào, báo cáo với đại biểu Quốc hội là về vấn đề đào tạo nghề thì xin phép tôi không nói lại mất thời gian của đại biểu Quốc hội. Như tôi vừa trình bày ở trên, đúng là trong thực trạng lao động đang thiếu việc làm, mất việc làm thì rất cần được đào tạo lại để người ta chuyển đổi nghề cho phù hợp hơn thì trách nhiệm trong ngành, chúng tôi đang chỉ đạo các địa phương phải nắm lực lượng lao động này và trên cơ sở nắm cả nhu cầu để có kế hoạch tổ chức đào tạo cho lao động này.

Thứ hai, hôm trước trong họp Thường vụ Quốc hội, có một Thứ trưởng của Bộ đến dự có nói rằng suy thoái kinh tế thì không ảnh hưởng đến đời sống của hộ nghèo thì xin Bộ trưởng cho biết đó có phải là quan điểm của Bộ hay là ý kiến của Thứ trưởng. Báo cáo với Quốc hội đó là ý kiến của Thứ trưởng phát biểu trong một hội nghị, còn Bộ khẳng định rằng do ảnh hưởng suy thoái kinh tế, đời sống nhân dân nói chung, trong đó có đời sống người nghèo dứt khoát bị ảnh hưởng và một bộ phận sẽ khó khăn. Tuy nhiên, chúng tôi rất mừng là với cơ quan tham mưu chính sách thì Đảng ta xuyên suốt một quan điểm, đó là phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Chính vì vậy, để đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa đó thì những năm gần đây, Đảng, Chính phủ và các ngành, các địa phương rất quan tâm vấn đề này và nội dung quan tâm đó như tôi đã trình bày tại phiên họp ngày 30 thảo luận về tình hình kinh tế-xã hội, tức là đối với nhóm những người nghèo thì một mặt trên cơ sở nghị quyết Trung ương 5 về một số vấn đề về an sinh xã hội giai đoạn 2012-2020 của Ban chấp hành Trung ương khóa XI thì Chính phủ đã có một chương trình hành động để thực hiện nghị quyết này, trong đó có một số chỉ tiêu cụ thể, nhất là hỗ trợ cho nhóm người nghèo.

Một là hỗ trợ về chính sách, như các đại biểu biết là hỗ trợ về chính sách chăm sóc sức khỏe, về chính sách đi học, hỗ trợ cho đất, cấp đất, cấp nhà cho những người không có điều kiện, hỗ trợ cho vay vốn để tạo việc làm, hỗ trợ cho các cháu vay đi học thì rất nhiều những chính sách hỗ trợ đấy. Chính vì vậy, chúng tôi có nhận định rằng có khó khăn, nhưng nó cũng hạn chế khó khăn và trong lúc khó khăn này thì tất cả những người nghèo vốn đã khó khăn thì họ cũng phải chịu một khó khăn này. Nhưng chúng ta đã có chủ trương đúng và có nhiều chính sách dành cho các đối tượng này, nên mức độ khó khăn đỡ hơn, chứ nói không khó khăn thì không có. Xin báo cáo với đại biểu Quốc hội như vậy.

Ý kiến tiếp theo là ý kiến của đại biểu Ly Kiều Vân ở Quảng Trị, thứ nhất là quản lý lao động ở Ả-rập Xê-út và các nước, xin Bộ trưởng cho biết về quan điểm trên? Riêng ý kiến này do ghi không được đầy đủ, nhưng tôi xin phép đại biểu Vân, chắc đại biểu muốn hỏi về trách nhiệm của Bộ trong quản lý lao động ở nước ngoài và quan điểm của Bộ về xử lý vấn đề đối với người lao động ở nước ngoài thế nào?

Báo cáo Quốc hội, hiện nay chúng ta có khoảng 500.000 lao động đang làm ở các nước, đến nay chúng ta chỉ có 8 ban quản lý lao động ở các nước, phần đông là các cơ quan đại diện ngoại giao của chúng ta ở các nước có trách nhiệm quản lý, bảo vệ quyền lợi cho người lao động.

Trong quy định về đưa lao động Việt Nam đi lao động có thời hạn ở nước ngoài thì có luật đã quy định rất rõ trách nhiệm của doanh nghiệp, thứ nhất là anh phải đưa người ta đến, thực hiện theo đúng hợp đồng, khi người lao động có vấn đề, bản thân doanh nghiệp đó phải tự tháo gỡ đối với doanh nghiệp anh đã ký hợp đồng. Nếu không thực hiện được anh phải báo cáo đại sứ quán hoặc tổ chức đại diện của Việt Nam tại nước ngoài để cùng phối hợp, xem xét, giải quyết. Chính vì vậy, trong những năm gần đây tình trạng lao động không được thực hiện đầy đủ các hợp đồng cũng như lao động do bị một số chủ có việc làm không đúng, chúng ta đều can thiệp và cơ bản đều được giải quyết và xử lý.

Nhưng có tình trạng một số người lao động không đi theo đường quy định, tức là doanh nghiệp được phép xuất khẩu lao động, chính vì vậy trách nhiệm của đơn vị này khi đưa lao động sang đến đó bản thân ngành quảnh lý lao động vì không cấp phép nên không được theo dõi, không biết doanh nghiệp nào. Đây là một vấn đề mà tới đây chúng tôi muốn thông qua đại biểu Quốc hội và cử tri cả nước, nên khi quyết định mang sức lao động của mình đi làm cho một tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài mình phải biết họ là ai và quyền lợi của mình đến đâu hãy đi, nếu không nghe một số cò lao động, khi đến nước chúng ta làm việc đó không thực hiện được hợp đồng lúc đó chúng ta sẽ rất khó khăn. Chính phủ không muốn điều đó, Chính phủ có trách nhiệm phải bảo vệ quyền lợi của người lao động thông qua cơ quan đại diện của mình ở nước ngoài và ngành lao động cũng có trách nhiệm nếu những vấn đề cụ thể về lao động sẽ phối hợp với ngành lao động của nước sở tại đó và doanh nghiệp đó xem xét, xử lý. Đó là ý thứ nhất của đại biểu Vân ở Quảng Trị.

Ý kiến thứ hai là về việc thí điểm đưa lao động từ huyện nghèo ra lao động ở nước ngoài mỗi năm chỉ được 6/10 số lao động ở cấp huyện, thì trách nhiệm thuộc về ai và hướng giải quyết như thế nào? Ở đây ý muốn nói là có một chủ trương đưa lao động các huyện nghèo đi xuất khẩu lao động và thực hiện chủ trương đó thì ngành lao động trong những năm vừa rồi trên cơ sở đăng ký lao động của các huyện nghèo cũng đã tổ chức cho 12.000 lao động để bồi dưỡng học phong tục tập quán, học tiếng, học một số những yêu cầu cơ bản khác để chuẩn bị cho việc đi xuất khẩu lao động. Đến thời điểm này chúng ta cũng đã đưa được khoảng 10.000 lao động của các hộ nghèo đi. Tuy nhiên hiện nay cũng có một số người lao động về trước, hiện tượng này là có. Tìm hiểu về hiện tượng này chúng tôi thấy số lao động ở huyện nghèo, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa thì ý thức, phong cách lao động và tính chịu đựng chưa được như một số lao động ở các địa phương khác.

Năm 2011 trong chuyến tham gia đoàn của Chủ tịch nước sang Malaysia, tôi có đi gặp các lao động Việt Nam làm việc ở Malaysia. Làm việc với Bộ Lao động của Malaysia và làm việc với doanh nghiệp sử dụng lao động của chúng ta, kể cả người đưa lao động, họ đều phàn nàn về tính tự do không chấp hành ý thức kỷ luật lao động tương đối nhiều đối với số lao động ở vùng nghèo đi lao động. Đặc biệt khi nhận lương xong, một số người lao động nghỉ luôn, sử dụng hết số tiền mới đi làm, vì vậy, phía bạn rất phàn nàn. Lúc về tôi bàn ngay với các anh ở Bộ, có lẽ mình phải tính kỹ số lao động ở các huyện nghèo đi, làm thế nào để hướng dẫn, nếu thấy những người không đủ điều kiện cũng phải nói rõ cho họ khó khăn ở nơi mình đến, nếu không họ rất ảo tưởng, nếu mình không làm kỹ thì họ sẽ hiểu rằng sang đến đấy là tốt nhưng sang đó lại không đạt theo ý của họ. Thực sự đã sang lao động làm việc ở nước ngoài là thực sự nghiêm túc, không thể như lao động nông nghiệp ở nhà nên một số lao động cũng không chịu được quy định ngặt nghèo của các doanh nghiệp đó đã bỏ về.

Hằng năm việc này có đạt được không, chúng tôi nghĩ là cũng còn một thời gian. Chúng tôi tính trên cơ sở những điểm yếu đó thì chúng tôi sẽ cố gắng trên cơ sở ý kiến của đại biểu Quốc hội, chúng tôi sẽ chỉ đạo cơ quan chuyên môn sẽ nghe lại toàn bộ thực hiện Quyết định 71 về đưa lao động các hộ nghèo đi xuất khẩu lao động, trên cơ sở đó thì chúng tôi sẽ điều chỉnh những vấn đề gì bất hợp lý, những mục tiêu đã đề ra sẽ được thực hiện.

Ý kiến của đại biểu Nguyễn Thành Tâm ở Tây Ninh đề nghị làm rõ đào tạo nghề giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ LĐTBXH thì có chồng chéo không? Chồng chéo thế nào?

Báo cáo đại biểu Quốc hội, thứ nhất, hiện nay trong quy định đào tạo nghề cho những người trực tiếp sản xuất thì ngành lao động, thương binh và xã hội quản lý, còn đào tạo nghề từ trung cấp chuyên nghiệp, đào tạo Đại học trở lên tiền lương có chênh lệch. Chính vì vậy, nhiều năm qua ngành lao động đã tham mưu và Bộ Nội vụ đã tham mưu cho Chính phủ nhiều lần điều chỉnh lương hưu. Qua 6 lần điều chỉnh, kể từ năm 2008 đến nay số nâng mức lương của người nghỉ hưu tăng 134%, so với tỷ lệ tăng của đương chức thì lúc nào cũng tương đương.

Tuy nhiên, ý kiến của đại biểu nêu là nên cân nhắc vấn đề này, đó là thực trạng những người nghỉ hưu thu nhập còn thấp, rõ ràng cùng một chức vụ như nhau mà nghỉ hưu ở hai thời điểm khác nhau đúng là thu nhập có chênh lệch, nhưng để tính chênh lệch như thế nào thì rất khó. Ví dụ trước năm 1993, ta đồng loạt Vụ trưởng như nhau, Vụ phó như nhau, cứ 2-3 năm lên một bậc lương. Nhưng sau năm 1993 lại hưởng theo học vị của mình, ví dụ chuyên viên, chuyên viên chính, có người chỉ là chuyên viên chính đã có điều kiện bổ nhiệm lên Vụ trưởng hoặc Thứ trưởng, nhưng có người là chuyên viên cao cấp rồi mới được bổ nhiệm vào chức vụ Thứ trưởng, Vụ trưởng. Nếu ta so sánh hai chức vụ như nhau ở hai thời điểm khác nhau thì đến bây giờ quả là khó. Nhưng chúng tôi thấy ý kiến đại biểu nêu là nên xem lại vấn đề này, chúng tôi đồng ý là nên nghiên cứu vấn đề lương của những người nghỉ hưu sớm, trước năm 1990.

Ý kiến của đại biểu Bạch Thị Hương Thủy ở Hòa Bình về đời sống khó khăn của dân cư xung quanh đập thủy điện, mục tiêu ổn định đời sống của dân nhưng mục tiêu này còn xa. Đến nay giải pháp để hỗ trợ việc làm cho đồng bào vùng tái định cư thế nào?

Báo cáo đại biểu Quốc hội, năm 2012 tôi đã có dịp đến với đồng bào tái định cư ở Thủy điện Hòa Bình. Tôi thấy khi dành đất cho thủy điện bà con đều sống ở ven núi, chính vì vậy việc đào tạo, đổi nghề cho họ là việc cần và con em họ phải được ưu tiên trong giải quyết việc làm phù hợp để đỡ khó khăn. Trên cơ sở làm việc với tỉnh Hòa Bình, các đồng chí cũng thống nhất rất cao là những chính sách dành cho đồng bào tái định cư hoặc chính sách hỗ trợ cho đồng bào về đào tạo nghề, hỗ trợ vay vốn sản xuất các đồng chí đều thực hiện.

Tuy nhiên, tôi thấy đúng là còn rất khiêm tốn so với nhu cầu thực tế của bà con ở đây, bởi vì cả đời người ta có vài sào ruộng, người ta sống ở dưới lòng thấp khi mà nước thủy điện dâng thì bị ngập mất hết mà lại không có một nghề nào thì quả tình cũng khó khăn thật. Chúng tôi rất chia sẻ và trách nhiệm chúng tôi với nhân dân là phải nghiên cứu để tiếp tục tham mưu cho Chính phủ, cho Đảng và tiếp tục có những chính sách hỗ trợ tích cực hơn đối với những hộ mà do tái định cư. Trách nhiệm chúng tôi sẽ cùng với các ngành tiếp tục nghiên cứu để xem xét đề xuất những chính sách cho phù hợp.

Ý kiến của đại biểu Phương Thị Thanh ở Bắc Kạn về Pháp lệnh Ưu đãi người có công ra đời và đã có Nghị định 31 mà đến nay chưa có hướng dẫn của Bộ thì chậm và trách nhiệm của Bộ đến đâu?

Báo cáo với Quốc hội, trước tiên chúng tôi thấy trách nhiệm của mình, lẽ ra khi Pháp lệnh có hiệu lực, một số chính sách được thực hiện từ ngày 1/9/2012, còn tuyệt đại bộ phận các chính sách còn lại có hiệu lực từ ngày 1/1/2013. Các văn bản hướng dẫn Pháp lệnh này đã phải xong nhưng chúng tôi đến tận ngày 9/4/2013 thì Nghị định 31 của Chính phủ về hướng dẫn Pháp lệnh có công mới hoàn thành. Chúng tôi ý thức được trách nhiệm phải làm càng sớm, càng tốt, đây là trách nhiệm của mình cũng là nguyện vọng rất chính đáng của những người có công. Chính vì vậy báo cáo với Quốc hội ngay ngày 15/5, cùng với việc chuẩn bị Nghị định thì chúng tôi đã chuẩn bị Thông tư. Ngày 15/5 chúng tôi đã có Thông tư 05 hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh người có công và đến nay chúng tôi đã tổ chức tập huấn cho các cán bộ, các địa phương về Pháp lệnh này và hướng dẫn về làm các thủ tục giải quyết những tồn đọng và những chính sách mới.

Như các đại biểu biết đây là một chính sách bổ sung chính sách mới, đối tượng mới nên lượng công việc cũng nhiều. Nay mai chúng tôi rất muốn hướng dẫn cụ thể vì các đối tượng tăng, kinh phí tăng, chính sách tăng, nên khi tham mưu cho Chính phủ ra được Nghị định thì phải có thời gian hội thảo, xin ý kiến. Chính vì vậy cũng có phần chậm một chút so với quy định, tôi thấy có trách nhiệm của mình trong phần triển khai các văn bản pháp luật này. Xin cảm ơn đại biểu Quốc hội.

Đại biểu Nguyễn Thành Tâm (đoàn Tây Ninh): Trong phần trả lời Bộ trưởng cũng nói về vấn đề hiện nay còn chồng chéo trong việc đầu tư và quản lý hệ thống dạy nghề ở trung cấp và cao đẳng. Bộ trưởng cho rằng phải chờ đến khi có đề án đổi mới về giáo dục mới xử lý được vấn đề này. Tuy nhiên, thực tiễn hiện nay các địa phương, nhất là ở cấp huyện đang đầu tư song song 2 hệ thống, trung tâm giáo dục thường xuyên và trung tâm dạy nghề. Đây là nguy cơ lãng phí lớn bởi vì 2 trung tâm này chức năng gần như nhau. Nếu như đầu tư như vậy phân tán cũng không đảm bảo là đầu tư đầy đủ, đồng bộ được. Hiện nay các địa phương đã gộp 2 trung tâm này thành một để đầu tư. Tập trung đầu tư hướng về cơ chế do 2 đầu mối trên chỉ đạo nên rất khó cho các địa phương. Vấn đề này đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo nên có biện pháp tham mưu Chính phủ để xử lý vấn đề này sớm, còn để kéo dài như vậy sau này xử lý dự án đầu tư rồi thì chắc chắn sẽ gây ra lãng phí không cần thiết.

Vấn đề thứ hai, chế độ tiền lương cho những người có lương hưu thấp, về hưu giai đoạn những năm 1990 trở về trước, vấn đề này cũng đã được Bộ nêu bất cập và còn nhiều vấn đề phải giải quyết nhưng tôi mong rằng Bộ sớm phải có tham mưu Chính phủ để giải quyết vấn đề này bởi vì những người về hưu sớm này là những người đã lớn tuổi và những người phần lớn tham gia vào thời gian kháng chiến là nhiều. Nếu chờ thì không biết đến chừng nào mới được giải quyết bất cập này. Có khi chế độ ra đời họ cũng không được hưởng nữa, nên tôi chỉ mong Bộ sớm trình Chính phủ để giải quyết vấn đề này.

Đại biểu Nguyễn Văn Rinh (đoàn Hải Dương): Tôi xin được chuyển đến Bộ trưởng một số vấn đề bức xúc của nhiều cử tri cả nước hiện nay.

Vấn đề thứ nhất, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã sửa đổi, bổ sung một số điều về Pháp lệnh số 04 về ưu đãi người có công với cách mạng và Chính phủ có Nghị định 31, Quyết định số 651 về kế hoạch quốc gia khắc phục hậu quả chất độc hóa học do quân đội Mỹ sử dụng ở miền Nam, Việt Nam. Mục tiêu của Chính phủ nêu rõ đến năm 2015, 100% người tham gia kháng chiến và con cháu của họ bị nhiễm chất độc da cam được hưởng các chính sách ưu đãi như người có công. Thực tế ở nước ta hiện nay còn hàng trăm nghìn người chưa được hưởng chế độ chính sách này. Xin Bộ trưởng cho biết trách nhiệm của Bộ LĐTBXH về kiến nghị tiến trình đẩy mạnh tiến độ xét duyệt công nhận người được hưởng chính sách cho người tham gia kháng chiến và con cháu của họ sớm được hưởng chính sách ưu đãi của nhà nước.

Vấn đề thứ hai, giá cả mấy năm gần đây tăng cao, cử tri cho rằng tiêu chí hộ nghèo của chúng ta hiện nay chưa phù hợp. Một vấn đề nữa, Nhà nước đã hỗ trợ 70% tiền mua bảo hiểm y tế cho các hộ cận nghèo, nhiều cử tri đề nghị Nhà nước hỗ trợ cả 100% để mua bảo hiểm cho đối tượng này. Xin Bộ trưởng cho biết quan điểm của mình về những vấn đề trên như thế nào?

Đại biểu Nguyễn Lâm Thành (đoàn Lạng Sơn): Trước tiên tôi rất chia sẻ với những khó khăn mà ngành LĐTBXH đang phải giải quyết trong tình hình hiện nay. Vấn đề mà tôi chất vấn Bộ trưởng liên quan đến nội dung mà Bộ trưởng vừa trả lời một phần cho đại biểu Nguyễn Minh Lâm, tuy nhiên việc này liên quan đến việc thực hiện lời hứa của Bộ trưởng cho nên tôi tiếp tục chất vấn.

Tại kỳ họp thứ 2, tôi có chất vấn Bộ trưởng về vấn đề lao động bất hợp pháp qua biên giới phía Bắc và nhận được trả lời, trong đó Bộ trưởng đã nêu 5 giải pháp để giải quyết tình hình được cử tri đồng tình và rất kỳ vọng. Tại kỳ họp thứ 4, sau hơn 1 năm tình hình phức tạp thêm, tiếp tục gia tăng số lượng và địa bàn với hàng nghìn người bị phía bên kia bắt giữ. Đối tượng ở đây chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số nghèo ở các xã, huyện biên giới phía Bắc, trong đó có tỉnh Lạng Sơn và có cả các tỉnh sâu trong nội địa. Tôi tiếp tục gửi chất vấn đến Bộ trưởng và tháng 5 vừa qua nhận được trả lời, tuy nhiên tôi xin hỏi Bộ trưởng 3 câu hỏi.

Thứ nhất, Bộ trưởng giải thích về chính sách dạy nghề, giảm nghèo nhưng cử tri cần có một chính sách thực sự hiệu quả hơn những gì đã có, trong điều kiện thiếu đất sản xuất và có tới 5-6 tháng thiếu việc làm trong năm. Bộ trưởng có tính tới chính sách đột phá đặc thù cho khu vực khó khăn này không và việc phối hợp với Bộ NNPTNT để giải quyết vấn đề này như thế nào?

Thứ hai, nhân dân và bản thân chúng tôi rất lo lắng về sự an toàn, bảo vệ quyền lợi của người lao động bất hợp pháp phía bên kia biên giới với nhiều nguy cơ rủi ro, bất lợi do thiếu hành lang pháp lý bảo vệ. Trong gần 2 năm vừa qua Bộ LĐTBXH đã làm gì và chủ động phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao để cải thiện tình hình trên?

Thứ ba, tại kỳ họp này Bộ trưởng có đề nghị, kiến nghị gì với các bộ liên quan, với Thủ tướng, với Quốc hội trong việc đề ra các giải pháp, chính sách để giải quyết một cách đồng bộ, hợp lý đối với vấn đề lao động bất hợp pháp, góp phần giải quyết vấn đề an ninh, biên giới hiện nay? Chúng tôi cũng như cử tri thực sự muốn Bộ trưởng cũng như ngành LĐTBXH vào cuộc trong vấn đề này.

Đại biểu Trần Thanh Hải (TP. Hồ Chí Minh): Tôi xin có 2 vấn đề chuyển đến Bộ trưởng. Vấn đề thứ nhất, vấn đề tiền lương, theo báo cáo của Chính phủ, tình hình kinh tế tuy còn nhiều khó khăn nhưng 4 tháng đầu năm 2013, cầu lao động trong nước đã tăng 0,9% nhưng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội lại đề nghị giãn lộ trình điều chỉnh tiền lương. Xin hỏi Bộ trưởng: Khi tham mưu cho Chính phủ về tiền lương tối thiểu, Bộ có tính đến quy luật cung cầu của thị trường lao động chưa? Có tính đến niềm mong chờ của người lao động về vấn đề điều chỉnh tiền lương chưa?

Hai, Nghị định 103 của Chính phủ về điều chỉnh tiền lương tối thiểu vùng năm 2013 công bố ngày 4/12/2012. Như vậy, chỉ có 26 ngày để chuẩn bị, gây khó cho cả doanh nghiệp và mức điều chỉnh lại thấp hơn mức thấp nhất mà Bộ xin ý kiến. Hệ quả là tình hình quan hệ lao động diễn biến hết sức phức tạp. Vậy việc điều chỉnh tiền lương tối thiểu vùng năm 2014 còn tái diễn tình trạng này không?

Ba, hiện nay hầu hết các doanh nghiệp ngoài Nhà nước xây dựng thang, bảng lương cho người lao động chủ yếu theo thời gian. Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội có ý kiến gì về vấn đề này? Giải pháp nào là cơ bản cần có để góp phần khuyến khích người lao động học tập, nâng cao tay nghề để có bậc lương phù hợp?

Vấn đề thứ hai là vấn đề quản lý Nhà nước về bệnh nghề nghiệp. Hiện nay cả nước có hơn 20 loại bệnh nghề nghiệp, riêng Thành phố Hồ Chí Minh có gần 1.000 người lao động bị bệnh nghề nghiệp ở 10 loại khác nhau. Nhưng đây chỉ là những người bị bệnh nghề nghiệp được quản lý. Số không quản lý còn hơn rất nhiều. Vậy hạn chế lớn nhất trong việc quản lý Nhà nước về vấn đề bệnh nghề nghiệp của người lao động là gì? Giải pháp nào là cấp thiết trong giai đoạn hiện nay để bảo vệ vốn quý là người lao động?

Đại biểu Nguyễn Ngọc Phương (đoàn Quảng Bình): Cùng với việc triển khai chậm Pháp lệnh Người có công sửa đổi thì việc tạm dừng cấp chế độ cho người bị ảnh hưởng chất độc màu da cam dừng quá lâu đến nay chưa khởi động lại. Một số chế độ cũng như cử tri đề nghị ví dụ như trong chiến tranh người đi làm nhiệm vụ là phải làm lễ truy điệu trước khi đi, và người tham gia kháng chiến bị thương dưới tỷ lệ 21% thì không được hưởng chế độ. Đối tượng này không nhiều và cũng già cả rồi thì Bộ trưởng cũng nên xem xét kiến nghị này.

Ý thứ hai, theo phản ánh của cử tri thì rất nhiều người làm hồ sơ man khai để hưởng chế độ thương binh, chất độc da cam và chế độ thanh niên xung phong, gây bức xúc trong xã hội, gây tổn thất ngân sách của Nhà nước. Theo Bộ trưởng trách nhiệm đến đâu và hướng giải quyết sắp tới như thế nào?

Bộ trưởng Phạm Thị Hải Chuyền: Tiếp theo ý kiến của đại biểu Tâm, tôi xin báo cáo thêm đối với tổ chức dạy nghề cấp huyện, đến nay hiện tại ở huyện có trung tâm dạy nghề, trung tâm hướng nghiệp, trung tâm giáo dục thường xuyên. Trung tâm hướng nghiệp và trung tâm giáo dục thường xuyên do ngành giáo dục quản lý, trung tâm dạy nghề do ngành lao động. Để giải quyết bất cập này, để dồn sức đầu tư tốt hơn cho con người, cũng như cơ sở vật chất, Bộ LĐTBXH cùng với Bộ Giáo dục và Đào tạo được sự đồng ý của đồng chí Phó Thủ tướng đã xây dựng Thông tư, tới đây xây dựng hướng dẫn và sẽ sáp nhập 3 trường ấy làm một và mỗi bộ chức năng có trách nhiệm hướng dẫn về chuyên môn, còn quản lý Nhà nước của các trung tâm này thuộc cấp huyện.

Còn ý kiến của đại biểu Nguyễn Văn Rinh, tỉnh Hải Dương, là đến năm 2015 thì 100% đối tượng người có công được hưởng thì tiến độ xét duyệt như thế này sợ rằng khó thực hiện. Báo cáo với đại biểu Rinh, thứ nhất là Pháp lệnh và triển khai thực hiện Pháp lệnh tôi đã giải trình ở phần trên. Hai là để làm tốt việc này tới đây cùng với việc đã tập huấn rồi, vừa rồi chúng tôi cũng đã làm việc với Hội nạn nhân chất độc da cam và cũng rất muốn các đồng chí cùng tham gia với chúng tôi, hướng giải quyết tích cực nhất những vấn đề hồ sơ tồn đọng. Hồ sơ của nạn nhân chất độc da cam trước đây có một quy định, một là bản thân người đó làm hồ sơ trên cơ sở điều kiện cụ thể của mình là có tham gia kháng chiến, có bị ảnh hưởng và quyết định người ấy có là nạn nhân ảnh hưởng chất độc da cam không, đó là Chủ tịch UBND huyện, sau đó gửi về Sở LĐTBXH, Sở chuyển sang Hội đồng giám định y khoa. Trên cơ sở kết luận của Hội đồng giám định y khoa người đó đúng là người bị ảnh hưởng chất độc da cam, hai là tỷ lệ ảnh hưởng là bao nhiêu thì chuyển về ngành lao động, lúc đó ra quyết định để thực hiện chính sách đối với người nạn nhân chất độc da cam.

Để thực hiện Pháp lệnh sửa đổi này, vừa rồi có một vài việc mà chúng tôi thấy rằng đầu mối hơn, nhưng quy trách nhiệm rõ hơn. Trong hướng dẫn cụ thể Pháp lệnh thì thủ tục làm hồ sơ vẫn là tự bản thân cá nhân người tham gia hoạt động kháng chiến lập hồ sơ và chính quyền địa phương xác nhận là người đó có tham gia kháng chiến và có ảnh hưởng, sau đó về huyện thì ngành lao động của huyện phải tập hợp hồ sơ chuyển về ngành lao động của tỉnh thì đỡ một phần để giao cho Chủ tịch UBND huyện xác nhận, về trên này thì Sở Lao động cũng phải thực hiện việc chuyển sang bên Hội đồng giám định y khoa để giám định xem đối tượng đó có nằm trong 17 bệnh do chất độc da cam ảnh hưởng hay không và tỷ lệ là bao nhiêu. Trên cơ sở kết luận của Hội đồng y khoa thì Giám đốc Sở Y tế quyết định đối tượng này là người có tham gia kháng chiến bị ảnh hưởng chất độc da cam và tỷ lệ là như thế này thì lúc đó, Sở Lao động tham mưu ra quyết định để thực hiện chính sách. Đấy là quy trình mới nhất để triển khai Pháp lệnh này bằng Thông tư 05 của chúng tôi. Chúng tôi cũng xin tiếp thu ý kiến các đồng chí là cố gắng làm thật trách nhiệm và tích cực, chỉ đạo hệ thống dọc để làm và tôi hy vọng rằng nếu cùng bắt tay của cả hệ thống, trong đó trách nhiệm chính là ngành lao động thì đến năm 2015, tôi tin rằng cơ bản chúng ta có thể thực hiện được những chính sách đối với bản thân đối tượng tham gia kháng chiến, cũng như thân nhân của họ.

Ý kiến thứ hai là tiêu chí hộ nghèo đến nay chưa phù hợp và đề nghị trách nhiệm của Bộ thế nào, báo cáo với đại biểu Quốc hội tại phiên họp Quốc hội kỳ này, tôi cũng đã trình bày tiêu chí hộ nghèo quyết định được thực hiện từ ngày 11/1/2011 và tiêu chí này quy định đối với hộ ở nông thôn 400.000 đồng/người/tháng, hộ ở thành thị 500.000 đồng/người/tháng. Mức quy định đó phải nói là thấp và nếu tính cả yếu tố trượt giá thì tiêu chí này cần phải được xem xét. Chúng tôi cũng tự thấy trách nhiệm của mình là phải xem xét tiêu chí xác định chuẩn nghèo thực chất mới thực hiện từ 2011, 2012, năm nay mới sang năm thứ ba. Chúng tôi sẽ lắng nghe để làm thế nào tiêu chí đó sát với thực tế hơn.

Có ý kiến đề xuất là hiện nay Nhà nước hỗ trợ cho đối tượng hộ nghèo là 70% mệnh giá của bảo hiểm y tế, có nhiều ý kiến đề nghị là nên 100%. Tôi thấy ý kiến này đúng, thực chất hộ nghèo rất khó khăn nên chúng tôi cũng thấy rằng việc này tuy thuộc của ngành y tế nhưng tôi nghĩ với trách nhiệm là cơ quan chính sách thì việc hỗ trợ cho hộ cận nghèo 100% mệnh giá thẻ bảo hiểm y tế cũng là cần, quan điểm của tôi là đồng tình.

Tiếp theo là ý kiến của đại biểu Nguyễn Lâm Thành về các giải pháp để giải quyết vấn đề lao động bất hợp pháp. Đại biểu rất lưu ý và quan tâm đến trách nhiệm của Bộ trưởng trong lời hứa và trong chỉ đạo, tại phiên chất vấn trước Thường vụ Quốc hội vấn đề này cũng được đại biểu của Hà Giang nêu, chúng tôi cũng đã thực hiện lời hứa của mình. Trên cơ sở những giải pháp, chúng tôi cùng các địa phương rà soát và cũng trên cơ sở đề xuất của các đồng chí, chúng tôi cũng đã tham mưu, đề xuất là tới đây hướng quản lý lao động này như thế nào. Như tôi đã trình bày ở trên là đã có đề xuất, tới đây còn đợi một số bộ, ngành và Chính phủ cho ý kiến, như vậy tôi thấy phần trách nhiệm của mình là đã có cố gắng. Tuy nhiên cũng còn một số giải pháp kèm theo như hỗ trợ học nghề để người ta khỏi phải đi làm ở nơi khác v.v..., thực chất chính sách hỗ trợ học nghề cho đồng bào dân tộc hiện đã có và chúng ta đang làm.

Tiếp theo, đại biểu có một đề nghị về chính sách dạy nghề và giảm nghèo có tính đột phá và có phối hợp với Bộ NNPTNT không. Báo cáo đại biểu, thực sự chương trình phát triển nông thôn mới giữa Bộ Lao động và Bộ Nông nghiệp đã rất gắn bó và phối hợp với nhau trong thực hiện từng chương trình mục tiêu của ngành mình, của đơn vị mình cũng như những chỉ tiêu phối hợp. Ví dụ như dạy nghề lao động nông nghiệp, trước đây ngành lao động phải chỉ đạo hướng dẫn dạy nghề nói chung nhưng đến nay Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã có văn bản chỉ đạo là đối với ngành nông nghiệp thì giao cho sở, tức là ngành nông nghiệp phải dạy nghề đó. Đó là những việc cụ thể chúng tôi thấy cần phối hợp và chúng tôi đã phối hợp làm được một số việc như vậy.

Về việc có ý kiến gì về vấn đề giải quyết lao động bất hợp pháp, báo cáo đại biểu Quốc hội, chúng tôi rất lo. Thứ nhất, thực trạng này đã diễn ra nhiều năm nay và đến gần đây như đại biểu thấy nó vẫn tăng, lao động bất hợp pháp thì mặc dù có được việc làm nhưng quyền lợi không được bảo đảm. Để đảm bảo đời sống cũng như tính mạng của những người lao động này thì trách nhiệm của cơ quan quản lý Nhà nước là phải phối hợp giữa 2 nước, chính quyền 2 địa phương của 2 nước có quy định quản lý số lao động này, để cho họ vẫn thực hiện được việc mùa vụ do yêu cầu của những công việc cụ thể họ vẫn đến được với nhau, nhưng cuộc sống của họ được đảm bảo, không bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, vấn đề đối với biên phòng, công an là những cơ quan chúng tôi rất cần, tới đây Thủ tướng sẽ chỉ đạo, các cơ quan sẽ ngồi lại đề xuất xem hướng nào là tốt nhất để chúng ta có thể ra được quy định về việc quản lý lao động này cho tốt hơn.

Ý kiến của đại biểu Trần Thanh Hải về vấn đề tiền lương, giảm lộ trình điều chỉnh tiền lương có tính đến quy luật cung cầu không? Báo cáo đại biểu Quốc hội, trong quy định của Chính phủ về lộ trình tiền lương, lương đối với công nhân viên hành chính sự nghiệp do Bộ Nội vụ trực tiếp xây dựng, triển khai, còn lương đối với doanh nghiệp giao cho Bộ LĐTBXH. Để thực hiện trách nhiệm của mình, chúng tôi đã xây dựng hằng năm theo nghị quyết của Trung ương sẽ có lộ trình quy định tăng lương tối thiểu, làm cơ sở cho các doanh nghiệp trả lương cho người lao động, năm 2012 chúng tôi đã thực hiện chương trình đó.

Khi ban hành mức lương tối thiểu theo 4 vùng, mức cao nhất trên 2 triệu thì cũng có hai loại ý kiến. Loại ý kiến thứ nhất, nói như vậy mới đáp ứng được nhu cầu của người lao động. Loại ý kiến thứ hai là không biết chia sẻ với doanh nghiệp, trong lúc doanh nghiệp khó khăn lại nâng lương tối thiểu làm cho doanh nghiệp khó khăn. Nhưng về cơ quan làm chính sách chúng tôi thấy rất cần lộ trình quy định 4 vùng để nâng lương tối thiểu, cái đó là cần và phù hợp. Tôi nghĩ rằng người lao động trên cơ sở đó cũng chia sẻ cho doanh nghiệp và doanh nghiệp phải có trách nhiệm chia sẻ, nếu doanh nghiệp không có người lao động sẽ không phát triển được. Vì vậy, tôi thấy các đồng chí có khó khăn nhưng các đồng chí có thể vượt được, nhưng người lao động không có đồng lương tối thiểu, lương tối thiểu quá thấp thì người ta không có sức làm cho doanh nghiệp. Chính vì vậy chúng tôi đã tham mưu thực hiện lộ trình như vậy.

Tuy nhiên, mức chúng tôi đề xuất cao hơn, nhưng do điều kiện của doanh nghiệp cũng như tình hình kinh tế chung, các doanh nghiệp đang rất khó khăn, phải sắp xếp lại, như vậy có nên đặt ra không. Cuối cùng, Chính phủ vẫn phải quyết định lộ trình điều chỉnh lương tối thiểu của các doanh nghiệp như ý kiến tôi đã trình trên. Tất nhiên là điều chỉnh này chúng tôi tính cả hai yếu tố như tôi vừa trình bày, cả quyền lợi của người lao động và trách nhiệm chia sẻ với doanh nghiệp trong lúc này.

Một ý nữa đại biểu Quốc hội có nói về bệnh nghề nghiệp, đến nay trách nhiệm thế nào? Trong quy định phân công của Chính phủ thì Bộ LĐTBXH quản lý về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hai nội dung này, bệnh nghề nghiệp lại giao cho ngành y tế các đồng chí quản lý. Tuy nhiên, với trách nhiệm của chúng tôi, chúng tôi thấy gần đây nhất là những lao động không được thông qua hợp đồng thì quyền lợi về chăm sóc, bảo vệ sức khỏe rất ít. Vì vậy, chúng tôi cũng đã tham mưu, đề xuất tới đây sẽ đề nghị xây dựng Luật về tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Theo chương trình năm 2014 chúng tôi sẽ xây dựng và chúng tôi sẽ phối hợp với Bộ Y tế để chuẩn bị việc này.

Ý kiến của đại biểu Nguyễn Ngọc Phương ở Quảng Trị là việc tạm dừng chế độ người bị chất độc da cam và đối tượng tham gia kháng chiến mà 21% không được trợ cấp hay vấn đề làm hồ sơ man khai để hưởng chế độ thì trách nhiệm của Bộ đến đâu? Đây đúng là một vấn đề tôi được biết, đến nay cử tri cả nước rất quan tâm.

Thứ nhất, vấn đề tạm dừng chế độ cho người đối tượng tham gia kháng chiến bị ảnh hưởng chất độc da cam.

Như các đại biểu Quốc hội biết, trước đây khi ta quy định về điều kiện, hồ sơ của đối tượng được hưởng chế độ chất độc da cam thì trước năm 2006 ta có cho phép do thời gian chiến tranh qua lâu rồi nên một số hồ sơ không còn, chỉ cần hai người xác nhận là được và chính do hồ sơ của hai người xác nhận đó nên hiện tượng gian lận tương đối nhiều.

Hai nữa là sau khi có Thông tư 08 của Bộ Y tế về quy định 17 bệnh do ảnh hưởng của chất độc da cam tạo ra thì lập hồ sơ để xác nhận người ấy là đối tượng ảnh hưởng bệnh do chất độc da cam, lúc ấy thấy phát triển, bùng phát rất nhiều. Chính vì vậy Bộ Lao động tháng 5/2011 cũng có một văn bản để xem xét tạm dừng việc đó, chỉ giải quyết những hồ sơ đã có và để tiếp tục xem xét xử lý vấn đề này.

Đến tháng 4/2012 Bộ có Văn bản 1040 và yêu cầu các địa phương là những hồ sơ tồn đọng, đã hoàn thiện và đến Sở thì các đồng chí tiếp tục giải quyết, phần còn lại thì đợi Pháp lệnh người có công. Đến hôm nay Pháp lệnh người có công đã ban hành và có hướng dẫn những thủ tục và những hồ sơ này sẽ tiếp tục thực hiện.

Thứ hai, hiện tượng man khai hồ sơ để hưởng từ thương bệnh binh đến nạn nhân chất độc da cam, báo cáo với Quốc hội, hiện nay có ba loại hồ sơ:

Thứ nhất, người không tham gia kháng chiến hoặc là không bị thương, nhưng có tẩy xóa hồ sơ, tẩy xóa các chứng từ ban đầu và để lập một hồ sơ.

Thứ hai, có mấy dạng khai man thì trên cơ sở trách nhiệm quản lý Nhà nước của Bộ về thanh tra việc thực hiện chính sách và chủ yếu trên thông tin của cử tri, cũng như đại biểu Quốc hội của cả nước thì chúng tôi cho đi thanh tra. Đến nay, đối với đối tượng là thương, bệnh binh tại Quân khu 1 thì các đồng chí biết rằng có hàng nghìn đối tượng bị cắt và đã phát hiện ra một bộ phận có liên quan đến trách nhiệm làm hồ sơ giả này và đã bị khởi tố. Quân khu 2 hiện tại cũng đã có, một số hồ sơ ở Yên Bái cũng có biểu hiện gian lận này, chúng tôi đề nghị là phải có cơ quan điều tra, xem xét. Đấy là đối với thương, bệnh binh.

Đối với nạn nhân chất độc da cam, chúng tôi có đi thanh, kiểm tra ở một số tỉnh thì thấy rằng có những sai, nhưng gần đây sai trong gian lận hồ sơ về bệnh án, tức là không đi bệnh viện, nhưng có bệnh án thì tương đối phổ biến. Chính vì vậy vừa rồi ở Quân khu 4, chúng tôi đã làm việc ở một số tỉnh và cũng đã đề nghị là chuyển một số hồ sơ đề nghị cơ quan điều tra của quân khu, các đồng chí xem xét những trường hợp này và vi phạm thì sẽ phải khởi tố.

Như vậy, trách nhiệm quản lý Nhà nước chúng tôi không chỉ hướng dẫn triển khai mà phải đi kiểm tra và qua kiểm tra phát hiện. Đến nay đã thanh tra trên 1.400 cuộc và thu hàng nghìn tỷ đồng. Ngành lao động đã đi thanh tra ở 37 tỉnh, thu xấp xỉ 600 tỷ đồng, tuy nhiên số rất nhỏ so với những vụ án mà chúng ta làm, đặc biệt là hồ sơ man khai còn ở dạng khi ở địa phương A không phải là đối tượng được hưởng chế độ đãi ngộ hoặc chính sách ưu đãi, nhưng chuyển sang tỉnh B, chủ yếu là chuyển về Lâm Đồng, Đăk Lăk, Gia Lai, Kon Tum và một phần chuyển về Hà Nội thì lại có một hồ sơ mới tinh đủ điều kiện được hưởng chính sách ở nơi mới và khi kiểm tra. Khi phát hiện thấy sai, chúng tôi đã yêu cầu là xem xét và đến nay chúng tôi đã chuyển đề nghị cơ quan công an phải xem xét trường hợp này.

Đại biểu Trần Thanh Hải (TP. Hồ Chí Minh): Thưa Bộ trưởng, câu hỏi mà tôi mong chờ nhất đó là Bộ có thể có một thông điệp về vấn đề điều chỉnh tiền lương tối thiểu vùng ngày 1/1/2014 hay không? Và nếu có thì còn tình trạng là chậm như đối với điều chỉnh theo Nghị định 103 của Chính phủ năm 2013 hay không?

Vấn đề thứ hai, Bộ trưởng đã có trả lời, tôi rất ghi nhận ý kiến của Bộ trưởng, tôi chỉ cung cấp thêm thông tin cho Bộ trưởng. Riêng bệnh nghề nghiệp của người lao động thì hiện nay cùng một lúc đến 3 cơ quan. Cơ quan chi tiền là Bảo hiểm xã hội, nhưng chủ yếu chỉ thực hiện dành cho doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp Nhà nước chiếm cổ phần thuế ưu đãi.

Bộ Y tế có chỉ đạo vấn đề tổ chức khám sức khỏe nhưng thực sự khám sức khỏe chung chứ vấn đề khám sức khỏe để tầm soát, quản lý bệnh nghề nghiệp thì chưa được một sự quan tâm đúng mức. Nhưng điều quan trọng hơn hết là việc tham mưu cho hệ thống quản lý Nhà nước về vấn đề theo dõi bệnh nghề nghiệp cho người lao động như thế nào thì hiện nay chưa có một sự thống nhất chung. Cho nên tôi cũng xin gửi vấn đề này khi mà Bộ nghiên cứu về luật pháp trong thời gian sắp tới thì có một sự thống nhất để chúng ta quan tâm nhiều hơn đối với người lao động

Đại biểu Lê Đắc Lâm (đoàn Bình Thuận): Tôi xin kính gửi tới Bộ trưởng 2 vấn đề. Một, hiện nay ở nhiều địa phương triển khai một số chủ trương, chính sách cho các đối tượng tham gia kháng chiến, người có công với cách mạng, nhưng đang gặp những khó khăn vướng mắc như: Việc quy tập hài cốt liệt sỹ về hồ sơ đòi hỏi phải có xét nghiệm ADN của liệt sỹ thì mới được xác nhận để làm thủ tục giải quyết chính sách này. Việc xét nghiệm ADN tốn kém rất nhiều tiền, người dân nói chung, người nghèo không thể đáp ứng được, theo tôi được biết, một ca xét nghiệm ADN trên 20 triệu đồng. Về hồ sơ thủ tục, xác định các đối tượng tham gia kháng chiến còn tồn đọng, đòi hỏi phải có hồ sơ gốc. Đây là việc làm rất khó khăn vì chiến tranh đã trải qua rất lâu. Mặt khác nhiều đối tượng tham gia kháng chiến làm gì có giấy tờ gốc. Nếu có thì cũng không còn lưu giữ nên rất khó khăn. Tất nhiên đòi hỏi này là để đảm bảo tính chính xác của người được thụ hưởng chính sách của Nhà nước.

Tôi xin đề nghị Bộ trưởng có giải pháp gì để tháo gỡ, giúp đỡ giải quyết những khó khăn vướng mắc nói trên.

Vấn đề thứ hai, qua nguyện vọng của nhiều cô chú tham gia lực lượng thanh niên xung phong, tôi xin kiến nghị với Bộ trưởng phối hợp với các bộ, ngành tham mưu với Nhà nước xét hình thức khen thưởng, Huy chương thanh niên xung phong tham gia kháng chiến cho các đối tượng nhằm công nhận quá trình tham gia kháng chiến và làm căn cứ để xét đối tượng chính sách của Nhà nước ưu đãi cho đối tượng thanh niên xung phong tham gia 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

Đại biểu Nguyễn Văn Minh (TP. Hồ Chí Minh): Tôi xin cảm ơn Bộ trưởng đã có 2 câu trả lời chất vấn của tôi gửi đến Bộ trưởng và tôi xin thêm 2 vấn đề như sau.

Ngày 15/5/2013, Bộ LĐTBXH đã ban hành Thông tư số 05, trong đó quy định về thủ tục xét nhận và giải quyết chế độ người hoạt động kháng chiến nhiễm chất độc hóa học, quy định thời gian rất rõ ràng, từ khi nộp hồ sơ từ xã, huyện lên cấp tỉnh, qua đó giúp các cơ quan có thẩm quyền thuận lợi hơn trong quá trình xét nhận người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, đặc biệt khắc phục được một phần các tiêu cực phát sinh trong thời gian vừa qua như Bộ trưởng đã nói. Mặc dù vậy quy định giải quyết chế độ chính sách cho người tham gia hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học vẫn còn khó khăn, phức tạp trong quá trình thực hiện. Quy định đối tượng tham gia kháng chiến bị mắc bệnh theo danh mục bệnh tật do Bộ Y tế quy định phải do nhiễm chất độc hóa học. Tuy nhiên, trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày, do môi trường sống và nguồn thực phẩm bị mô nhiễm, trong khi đó để xác định nguyên nhân gây bệnh có phải do chất độc hóa học hay không lại không thể làm xét nghiệm máu cho nạn nhân, do chi phí quá cao. Điều này dẫn đến khó khăn cho người đến khám bệnh cho các cơ sở y tế cũng như Hội đồng giám định y khoa khi đưa kết luận nạn nhân bị bệnh do dioxin gây ra, kể cả khi xét nghiệm thấy có nồng độ dioxin cao. Tôi xin Bộ trưởng cho biết Bộ trưởng sẽ có những biện pháp và chỉ đạo gì để tạo điều kiện cho những người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học và con đẻ của họ nhanh chóng được hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước?

Căn cứ vào Điều 32 của Thông tư 05 của Bộ quy định "việc giới thiệu đi giám định y khoa sẽ kết thúc trước ngày 31/12/2014", tôi đề nghị Bộ trưởng cho biết có hoàn thành được không, những trường hợp sau ngày đó chưa có giấy chứng nhận bệnh tật do nhiễm chất độc hóa học có được tiếp tục xét duyệt hay không?

Câu thứ hai, hiện nay các trung tâm bảo trợ xã hội của các tỉnh, thành phố đang thực hiện các chế độ chính sách cho những người ở các trung tâm theo Nghị định 67 năm 2007 và Nghị định 13 năm 2010 của Chính phủ về chính sách trợ giúp đối với đối tượng bảo trợ xã hội, theo các quy định trên thì hiện nay tiền ăn tính bình quân một ngày của một người là từ 17.000 đồng được chia làm 3 buổi: sáng, trưa và chiều gồm các chi phi gạo, chất đốt, thực phẩm và gia vị. Tại thời điểm mới thực hiện các chính sách này thì những hộ trả trên là phù hợp, nhưng với số tiền hiện nay theo quy định như thế là không còn hợp lý, do giá thực phẩm và các chi phí tăng cao, vì vậy giá trị dinh dưỡng đang sụt giảm, không đảm bảo chất lượng. Tôi đề nghị Bộ trưởng cho biết Bộ đã có những tham mưu gì cho Chính phủ và các bộ, ngành liên quan giải quyết những bất cập trên, đến thời điểm nào thì những bất cập trên sẽ được thay đổi cho phù hợp với cuộc sống?

Đại biểu Trương Minh Hoàng (đoàn Cà Mau): Qua theo dõi, tôi nhận thấy Bộ trưởng đã trả lời chất vấn của các đại biểu trước tôi, phần nào đã giải tỏa được những bức xúc của bà con cử tri theo dõi quan màn ảnh. Tôi có hai vấn đề xin đặt ra với Bộ trưởng như sau:

Một, tôi đặc biệt quan tâm tới sự gia tăng khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng, miền, giữa các tầng lớp nhân dân ở thành thị và nông thôn, do quá trình giảm nghèo chưa bền vững, hay hệ lụy do mất việc làm, thiếu việc làm, do chất lượng dạy nghề chưa đảm bảo, chưa đáp ứng với yêu cầu của thị trường lao động. Tôi xin hỏi Bộ trưởng có những sáng kiến gì để rút ngắn khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng, miền, nông thôn, thành thị, đặc biệt là ở 3 tây, Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, thoát khỏi nguy cơ nghèo mãi, thực hiện được mục tiêu "miền ngược tiến kịp miền xuôi" như Bác Hồ đã từng nói đến cách đây 60 năm?

Hai, đất nước ta đã trải qua nhiều cuộc kháng chiến khốc liệt, đối tượng thụ hưởng chính sách số lượng đông, Nhà nước luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến đối tượng này. Tuy nhiên, ở nhiều vùng, miền nông thôn và ở vùng sâu, vùng xa còn một số không ít cựu chiến binh, tù chính trị, người tham gia kháng chiến chưa được hưởng thực hiện chính sách, chưa được hưởng các chế độ. Nguyên nhân do thiếu hoặc mất, thất lạc, hư hỏng hồ sơ, giấy tờ theo quy định. Tôi xin hỏi Bộ trưởng, ngoài các quy định hiện hành về quy trình, thủ tục công nhận thực hiện chính sách người có công, liệu có thể xem xét các trường hợp do yếu tố lịch sử quá trình tham gia cách mạng, đặc biệt là những người có công như nêu trên để trình Chính phủ có những bổ sung hay quy định gì cụ thể để những người này được hưởng, hay Bộ trưởng trực tiếp có hướng dẫn để những người này được hưởng hay không?

Đại biểu Huỳnh Thành Đạt (TP. Hồ Chí Minh): Tôi có hai câu hỏi, nhưng một câu trùng với đại biểu Tuấn ở Trà Vinh và đại biểu Tâm ở Tây Ninh. Tôi xin hỏi Bộ trưởng một câu hỏi liên quan đến đào tạo nghề.

Kính thưa Bộ trưởng, hiện nay về quản lý Nhà nước thì các trường cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, các trường cao đẳng nghề và trung cấp nghề thuộc Bộ LĐTBXH. Hai hệ thống này có số lượng trường tương đương với nhau, có chung nhiệm vụ là đào tạo nguồn nhân lực có chuyên môn, nghiệp vụ, có tay nghề cho xã hội. Theo tôi chắc có lẽ Việt Nam là một trong những nước có đặc thù này. Trong thực tế, hai hệ thống này có một số khác biệt như sau:

Thứ nhất là cơ cấu chương trình đào tạo có khác nhau, đặc biệt là giữa lý thuyết và thực hành cũng bằng cách khác nhau. Theo đó, hiện nay có tình trạng một số cơ quan, đơn vị, trong đó có cả đơn vị, cơ quan Nhà nước không nhận sinh viên tốt nghiệp cao đẳng nghề, mà chỉ nhận sinh viên tốt nghiệp cao đẳng của Bộ Giáo dục và Đào tạo, lý do là không đạt chuẩn. Ở đây có thể nói cơ hội việc làm của sinh viên tốt nghiệp cao đẳng nghề có khó khăn hơn.

Thứ hai, chế độ chính sách cho nhà giáo có khác nhau, trong đó giáo viên dạy nghề thiệt thòi hơn. Thứ ba, việc liên thông từ cao đẳng nghề lên đại học là khó, thậm chí không thể. Theo tôi vấn đề liên thông là nhu cầu chính đáng của người học.

Câu hỏi là xin Bộ trưởng cho biết ý kiến về vấn đề này? Xin hỏi Bộ trưởng có giải pháp gì hoặc có kiến nghị gì với Chính phủ, với Quốc hội để giải quyết những bất cập này.

Cuối cùng, xin hỏi Bộ trưởng có suy nghĩ gì về đề xuất của nhiều cử tri là nên thống nhất một đầu mối quản lý Nhà nước hai hệ thống đào tạo này?

Đại biểu Trần Văn Minh (đoàn Quảng Ninh): Tôi xin được Bộ trưởng chia sẻ hai vấn đề.

Một là về giải quyết việc làm, vài năm vừa qua tình hình kinh tế-xã hội nước ta gặp rất nhiều khó khăn, năm 2012 có trên 54.000 doanh nghiệp và 4 tháng đầu năm 2013 có gần 20.000 doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động. Việc các doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động sẽ làm cho người lao động mất việc gia tăng. Trước tình hình đó với chức năng, nhiệm vụ được Chính phủ giao đề nghị Bộ trưởng cho biết hướng giải quyết việc làm đối với số lao động bị mất việc làm như đã nêu trên. Trong điều kiện chung, các ngành sản xuất trong nước đều gặp khó khăn, xuất khẩu lao động có phải là một hướng ưu tiêu không, xin Bộ trưởng cho biết thêm về vấn đề này!

Thứ hai, về đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Theo Đề án 956, đến năm 2020 sẽ dạy nghề cho 11 triệu lao động nông thôn, với nguồn kinh phí từ ngân sách Nhà nước, dự kiến khoảng 26 nghìn tỷ đồng. Qua 3 năm thực hiện, đề án đã đào tạo, bồi dưỡng được khoảng 180.000 cán bộ, giáo viên và hỗ trợ dạy nghề cho gần 1,1 triệu lao động nông thôn, so với mục tiêu đề ra thì tiến độ triển khai đề án còn rất chậm, kết quả còn nhiều hạn chế, hiệu quả chưa cao và nguyên nhân cũng có nhiều. Trong đó có những nguyên nhân thuộc về các cơ quan quản lý Nhà nước, từ cấp Trung ương đến địa phương như kế hoạch dạy nghề cho lao động nông thôn chưa sát với nhu cầu xã hội, công tác thông tin tuyên truyền về chế độ chính sách, thông tin về thị trường cũng chưa đạt yêu cầu v.v... Đây là đề án lớn có sự tham gia của nhiều bộ, ngành và địa phương, đòi hỏi có sự phối hợp chặt chẽ kịp thời các cơ quan liên quan. Với trách nhiệm cơ quan thường trực tôi đề nghị Bộ trưởng cho biết những khó khăn tồn tại trong công tác phân công nhiệm vụ, phối hợp tổ chức thực hiện của các bộ, ngành địa phương và hướng khắc phục các tồn tại trên để giúp đề án đẩy nhanh tiến độ, có hiệu quả và đạt được các mục tiêu đã đặt ra.

Đại biểu Phạm Minh Tấn (đoàn Đăk Lăk): Tôi xin phép được hỏi Bộ trưởng một vấn đề như sau. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, nghe theo tiếng gọi của Đảng và Nhà nước, nhiều thanh niên ở các tỉnh miền Bắc và các tỉnh khác đã tham gia lực lượng thanh niên xung phong vào các tỉnh Tây Nguyên để xây dựng các vùng kinh tế mới. Trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn về vật chất, thời tiết khí hậu khắc nghiệt của mưa rừng, sốt rét, đặc biệt là sự tấn công phá hoại của tổ chức phản động Fulro nhưng họ vẫn quyết tâm bám trụ, khai hoang sản xuất, xây dựng các công trình thủy lợi, phát triển kinh tế, góp phần giữ vững an ninh chính trị để vùng Tây Nguyên có được như ngày hôm nay, công sức của họ đáng được ghi nhận đền đáp. Xin Bộ trưởng cho biết Bộ đã có những tham mưu như thế nào cho Chính phủ, Quốc hội để có những chế độ, chính sách đối với lực lượng cựu thanh niên xung phong này?

Bộ trưởng Phạm Thị Hải Chuyền: Tôi xin phép được trả lời 6 câu hỏi chiều hôm qua (13/6) và 1 câu hỏi sáng hôm nay (14/6) của đại biểu Quốc hội.

Thứ nhất là đại biểu Trần Thanh Hải, Thành phố Hồ Chí Minh có hỏi Bộ có thông điệp về điều chỉnh tiền lương tối thiểu ngày 1/1/2014 hay không và nếu có thì tình trạng chậm như đối với việc điều chỉnh Nghị định 103 của Chính phủ năm 2013 hay không?

Báo cáo với đại biểu Trần Thanh Hải, theo quy định lộ trình đặc biệt thực hiện nghị quyết của Trung ương thì thực hiện đến năm 2015 cơ bản đạt mức chuẩn của lương tối thiểu và quy định về việc nâng mức lương tối thiểu phải thông báo trước 60 ngày đối với doanh nghiệp. Riêng năm 2012 vừa rồi việc thông báo lương tối thiểu cũng có chậm so với quy định, nên một phần doanh nghiệp rất khó khăn, bởi vì khi đưa nâng lương tối thiểu này thì phải ngay vào cuối tháng trước để các doanh nghiệp đưa vào kế hoạch tiền lương của mình năm sau.

Chính vì vậy ý kiến của đại biểu Quốc hội nêu về vấn đề này chúng tôi thấy năm 2012 vừa rồi do tình hình kinh tế-xã hội, do khó khăn của doanh nghiệp nên cũng cân nhắc xem việc nâng mức lương tối thiểu thế nào, như hôm qua tôi vừa trình bày.

Còn riêng đối với năm nay, thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 chúng ta vẫn tiếp tục thực hiện lộ trình điều chỉnh mức lương tối thiểu. Chúng tôi cũng đã cùng phối hợp với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và với cơ quan đại diện cho người sử dụng lao động thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đã chuẩn bị xây dựng một chương trình để trình với Chính phủ về mức lương tối thiểu vùng đối với khối doanh nghiệp. Với tinh thần thực hiện theo quy định sớm quyết định trong năm 2013 để năm 2014 thì các doanh nghiệp không ảnh hưởng, hiện nay chúng tôi đang bắt tay làm công việc này.

Thứ hai, đại biểu Lê Đắc Lâm, tỉnh Bình Thuận, có hai câu hỏi, thứ nhất đề nghị Bộ có giải pháp gì để tháo gỡ, giúp đỡ và để giải quyết những khó khăn, vướng mắc như việc quy tập hài cốt liệt sỹ đòi hỏi phải có xét nghiệm ADN của liệt sỹ mới được làm thủ tục xác nhận giải quyết, hồ sơ thủ tục xác nhận đối với các đối tượng tham gia kháng chiến còn tồn đọng phải có hồ sơ gốc, đây là việc khó vì chiến tranh lâu rồi.

Thứ hai, đại biểu Lê Đắc Lâm có đề nghị Bộ trưởng phối hợp với các bộ, ngành tham mưu với Nhà nước xét hình thức khen thưởng Huy chương thanh niên xung phong tham gia kháng chiến cho đối tượng, nhằm công nhận các đối tượng này.

Phần thứ nhất, việc xác định ADN đối với các liệt sỹ khi đưa vào các nghĩa trang. Gần đây có hiện tượng thông qua ngoại cảm một số trường hợp đưa hài cốt thân nhân của mình về không đúng hài cốt đó, như ở Hải Phòng và một vài nơi.

Các đồng chí biết Chính phủ có quy định việc xác nhận hài cốt liệt sĩ ấy có phải là của đối tượng liệt sĩ đó không và giao cho Bộ Quốc phòng triển khai. Chúng tôi cũng khuyên tất cả những thân nhân liệt sĩ khi muốn đi tìm hài cốt của thân nhân mình nên thông qua cơ quan có trách nhiệm là Bộ Quốc phòng. Những trường hợp thông qua những con đường khác, các gia đình thân nhân đã đưa về các nghĩa trang, chúng tôi đã đề nghị cho phép đặt vào nghĩa trang nhưng chưa khắc bia. Như tôi vừa nói ở trên, để cho chắc chắn, chúng tôi có đề nghị nên làm xác định ADN và kinh phí xác định ADN do Bộ Quốc phòng thực hiện chi trả, gia đình không phải chi trả, lúc ấy mới khắc bia.

Vừa rồi có một số cử tri đề nghị nhưng chúng tôi nghĩ rằng để đảm bảo chắc chắn nên phối hợp với cơ quan Quốc phòng và địa phương để chúng ta thực hiện việc tìm kiếm cho chính xác hơn.

Thứ hai, những trường hợp không còn hồ sơ gốc cách giải quyết như thế nào? Như tôi trình bày hôm qua là trước đây, có một giai đoạn do chiến tranh kéo dài nên một số trường hợp không còn hồ sơ gốc, chúng ta đã phải thực hiện một giải pháp đó là 2 người chứng nhận. Chính thông qua 2 người chứng nhận đó thì đã có một số biểu hiện gian lận xảy ra. Chính vì vậy sau này, việc làm hồ sơ gốc để giải quyết chính sách, chế độ phải căn cứ những tài liệu, những hồ sơ gốc là có tham gia chiến trường, có xác nhận về điều trị và một số những quy định để xác nhận đối tượng này. Trên cơ sở đó giải quyết hạn chế những sai phạm của các đối tượng, nhưng đồng thời cũng có những bất hợp lý là những trường hợp chiến tranh đã qua lâu người ta không còn hồ sơ gốc, chúng tôi thấy rằng vẫn phải được giải quyết.

Tuy nhiên, kể cả Pháp lệnh mới cũng quy định phải có hồ sơ, nhưng trong thực tế chúng tôi nói là những trường hợp tồn đọng do không còn hồ sơ gốc mà các đối tượng thực sự là người đã có công, đã tham gia và đã bị ảnh hưởng, tiếp tục phải được xem xét, bằng cách Bộ cùng chỉ đạo Sở là những trường hợp cụ thể phải được giao cho chính quyền địa phương xác nhận, xem xét. Trên cơ sở đó phải xem xét giải quyết cụ thể từng trường hợp một chứ không gửi tất cả các trường hợp không có hồ sơ gốc sang giám định y khoa ngay như những năm trước đây mà chúng ta có phát hiện ra một số những sai phạm. Như vậy những người không còn giấy tờ gốc vẫn có cơ hội và Nhà nước vẫn phải có trách nhiệm xem xét nếu chứng minh là có tham gia kháng chiến, có ảnh hưởng vẫn được hưởng chính sách.

Về chế độ Nhà nước xét đối với thanh niên xung phong, về hình thức khen thưởng, khen thưởng đối với thanh niên xung phong trước đây cũng đã có quy định rồi, từng thời gian đã tặng Huy chương Kháng chiến cho đối tượng này. Còn việc khen thưởng với từng hạng bậc theo quy định bình thường, được xem xét Huân chương của lực lượng thanh niên xung phong thì Ban thi đua khen thưởng sẽ làm. Tôi nghĩ rằng các đối tượng thuộc diện khen thưởng có hồ sơ thì Ban thi đua khen thưởng sẽ xem xét theo quy định.

Thứ ba, trường hợp đại biểu Nguyễn Văn Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, tôi xin trả lời, khoản 4 Điều 32 của Thông tư số 5 ngày 15/5/2013 vừa rồi của Bộ có quy định thời điểm giới thiệu khám y khoa sẽ kết thúc vào ngày 31/12/2014 chỉ đối với những trường hợp đang hưởng chế độ mà đi giám định lại. Như các đại biểu đã biết, theo Pháp lệnh mới đối tượng ảnh hưởng nạn nhân chất độc da cam mà dưới 81% phải giám định để xếp loại và có mức trợ cấp khác nhau. Những đối tượng này với tinh thần tích cực nhất là thực hiện đến 31/12/2014 phải xong. Tuy nhiên, trong thực tiễn, có những giới hạn như vậy, nhưng trường hợp cá biệt mà chưa xong được thì cũng sẽ phải tính. Chúng ta vẫn phải tính xem xét, nếu hồ sơ ấy là hợp lý. Tôi nghĩ thời gian từ nay đến 31/12/2014 đủ để các đối tượng đã, đang hưởng chính sách ở mức dưới 80% mà muốn giám định lại, các đồng chí có điều kiện, đề nghị để thực hiện.

Thứ hai, tất cả những hồ sơ lập mới theo hướng dẫn mới của Pháp lệnh này (Pháp lệnh sửa đổi) thì không có quy định là thời gian tối thiểu đến tháng 12/2014 thì phải gửi hồ sơ và kết thúc thời gian giới thiệu giám định y khoa.

Về chính sách đối với các đối tượng hưởng chính sách bảo trợ ở các trung tâm bảo trợ xã hội đến nay rất là thấp. Mức 180.000 đồng/người là mức thấp nhất và cũng tùy từng đối tượng, có đối tượng có hệ số 2, có đối tượng hệ số 2,5, có đối tượng hệ số 3. Nghĩa là hiện tại chúng ta có hưởng mức thấp nhất là 180.000 đồng/người và có hệ số 2 đối với một số đối tượng là khoảng 360.000 đồng/người và đặc biệt, đối với các cháu mồ côi, còn nhỏ về nuôi dưỡng ở đó thì mức cũng được 1.030.000 đồng/người.

Tuy nhiên, mức đó để chăm sóc một đối tượng người có công thì cũng còn thấp so với quy định. Vừa rồi, chúng tôi đã tham mưu, xây dựng Nghị định để thay thế Nghị định 67 và Nghị định 13 của Chính phủ về bổ sung mức hỗ trợ cho các đối tượng này với mức thấp nhất là 180.000 đồng/người lên 270.000 đồng/người và cũng tiếp tục các hệ số vẫn giữ như vậy. Tuy nhiên, đây là Nghị định chúng tôi đề xuất, còn tới đây Chính phủ sẽ thảo luận và cân đối một khả năng ngân sách để quyết định mức trợ cấp như thế nào cho đối tượng cho phù hợp.

Đại biểu Trương Minh Hoàng ở tỉnh Cà Mau hỏi Bộ trưởng về sáng kiến để rút ngắn khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng, miền, đặc biệt là ở Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, thoát khỏi nguy cơ nghèo mãi và thực hiện mục tiêu là "miền ngược tiến kịp miền xuôi" như Bác Hồ đã dạy cách đây 60 năm. Tôi xin được trả lời như sau. Thứ nhất là trong thực trạng hiện nay do điều kiện kinh tế-xã hội ở mỗi vùng một khác nhau, đặc biệt là điều kiện tự nhiên, nhất là các vùng sâu, vùng xa rất khó khăn. Chính vì vậy mà cơ sở hạ tầng rất thấp và dịch vụ phục vụ để người dân tiếp cận các dịch vụ có điều kiện để tự mình phát triển lên cũng hạn chế, vì thế đời sống của bà con ở những vùng này là khó khăn. Do đó tỷ lệ hộ nghèo thuộc 3 vùng như tôi vừa trình bày là Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ là rất chênh lệch. Để giảm nhanh tỷ lệ chênh lệch này giữa các vùng miền, đặc biệt giữa miền núi với miền xuôi thì trước tiên chúng ta phải tích cực thực hiện giải pháp đã có.

Thứ nhất là Chính phủ cũng dành sự ưu ái với các vùng này bằng cách bố trí cho 62 huyện nghèo mỗi năm hàng nghìn tỷ đồng hỗ trợ đầu tư hạ tầng. Tôi thấy đầu tư hạ tầng có ý nghĩa hết sức quan trọng để giúp cho hộ nghèo ở khu vực này có cơ hội. Ví dụ chỉ cần đầu tư một hồ nước thì có thể ruộng một vụ thành ruộng hai vụ, đầu tư một con đường thì có thể lưu thông được những sản phẩm người ta bán ra giá trị có thể nâng gấp 2-3 lần nếu xe ô tô vào được. Chính vì vậy mà chúng tôi đã tham mưu đề xuất với Chính phủ và vừa rồi Chính phủ cũng đã đồng ý bổ sung 23 huyện cũng khó khăn gần như 62 huyện nghèo để được hỗ trợ 70% so với mức đầu tư cho hộ nghèo về đầu tư hạ tầng. Tôi nghĩ đây là quốc sách, cũng là quyết tâm rất cao của Chính phủ, tất nhiên do khả năng ngân sách cho nên Chính phủ cũng cân nhắc và quyết định là dành một khoản tạm ứng để giải quyết vấn đề này cho bà con khắc phục những việc trước mắt. Tôi cũng nhất trí với các đại biểu là nếu không có hạ tầng thì cũng rất khó để cải thiện cho bà con.

Thứ hai, tôi thấy cần phải xem xét lại những chính sách đối với bà con ở từng vùng cụ thể để có chính sách cụ thể. Báo cáo Quốc hội, cũng ở vùng Tây Bắc hoặc vùng Tây Nguyên, vùng Tây Nam Bộ nhưng mỗi một vùng lại có một khu vực riêng rất khó khăn, nếu chỉ áp dụng chung một chính sách đặc thù thì có thể cũng chưa phù hợp lắm.

Cuối năm 2012, tôi có một chuyến đi công tác đến xã Pa Vệ Sủ, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, tôi thấy rằng 93% là hộ nghèo; hỏi ra thì họ không có điều kiện sản xuất và người ta lại là rừng đầu nguồn, nếu người ta chăm tốt, bảo vệ tốt rừng đầu nguồn này đã rất quý rồi. Nên chăng những trường hợp ở những vùng biên giới không có điều kiện canh tác thì không nên để bà con trồng mấy cây ngô năng suất rất thấp. Như vậy cũng có tác hại là sẽ ảnh hưởng đến rừng đầu nguồn, nên chăng Nhà nước cứ hỗ trợ cho họ. Một là tiếp tục giao cho họ bảo vệ khu rừng ấy và hỗ trợ gạo để họ thực hiện vấn đề đấy. Tôi biết chính sách này cũng đã có nhưng chúng tôi thấy rằng nếu chỉ hỗ trợ gạo thì nhu cầu khác cũng rất khó khăn. Vì vậy, tôi nghĩ rằng tới đây là những trường hợp rất đặc biệt, những khu vực rất đặc biệt ấy nên có chính sách riêng, đấy là chính sách đầu tư.

Về đầu tư chung hiện tại đang thực hiện nhiều chính sách đối với đồng bào, trong đó tôi quan tâm đến chính sách là tạo điều kiện cho con em ở vùng sâu, vùng xa đi học để có kiến thức. Chúng ta ở đây phần đông là cũng đã được đi đến những vùng đó và thấy rằng điều kiện sản xuất thì có nhưng tư duy về sản xuất, ý thức về sản xuất và kinh nghiệm về sản xuất rất thiếu, phần đông đối với những người có tuổi. Nhưng với thế hệ trẻ rất cần kiến thức và khi họ quay lại mảnh đất họ đã sinh ra lớn lên, rất có thể họ khai thác, làm được. Nên tôi thấy đầu tư thứ hai là đầu tư hỗ trợ để con em các đồng bào vùng này được học và có kiến thức, đồng thời cũng phải tạo cơ hội ưu tiên chính sách để con em đồng bào vùng này có chính sách riêng về hỗ trợ để tạo việc làm...

Một ý nữa tôi rất muốn là hiện nay ở các vùng này bà con vẫn rất thiếu vốn mặc dù đã dành phần vốn cho vay phát triển sản xuất nhưng mức còn thấp, nên chúng tôi rất muốn những bà con có điều kiện ở khu vực này được vay vốn. Bởi vì lãi suất, nợ xấu của những hộ vay để phát triển sản xuất rất thấp so với nợ xấu của hoạt động tín dụng khác, nên tôi rất muốn sẽ cố gắng cho vay thêm.

Đại biểu Huỳnh Thành Đạt, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị cho biết về cơ hội việc làm liên thông đại học cho sinh viên học cao đẳng nghề và chế độ chính sách đối với giáo viên, cán bộ dạy nghề. Bộ trưởng có giải pháp và kiến nghị gì với Chính phủ giải quyết khó khăn này?

Cơ hội tạo việc làm đối với học sinh liên thông lên đại học và cho sinh viên cao đẳng nghề, hiện nay đúng là có bất cập, đối với những người lao động ở các trường cao đẳng nghề ra vì trường cao đẳng nghề thực hiện Luật Dạy nghề thì sau này gần đây mới có một số cao đẳng nghề ra. Chính vì vậy trong xếp hạng danh mục của công chức thì chưa có danh mục này. Tới đây chúng tôi cũng đã trao đổi với Bộ Nội vụ sẽ phải xem xét có hướng dẫn cụ thể để làm cơ sở cho các đơn vị tiếp nhận đối với học sinh học ở trường cao đẳng nghề này đúng theo quy định. Còn về nguyên tắc người ta có quyền được vào khi người ta có một chứng chỉ được đào tạo thì được vào các cơ quan, đơn vị làm việc phù hợp với khả năng này của người ta.

Đúng là chế độ chính sách đối với các trường cao đẳng nghề, kể cả giáo viên, chúng tôi đã được nghe phản ảnh ý kiến này và chúng tôi đã bàn với Bộ Nội vụ tới đây phải xem xét xếp lại lương giữa trường cao đẳng nghề và cao đẳng chuyên nghiệp. Chúng tôi thấy đây cũng còn những vấn đề bất cập như đại biểu nêu, chúng tôi xin tiếp thu và sẽ cùng với Bộ Nội vụ xem xét vấn đề này để xử lý.

Về đề nghị nên thống nhất đầu mối quản lý Nhà nước hai hệ thống các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo và các trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề thuộc Bộ LĐTBXH, vấn đề này tôi xin được báo cáo như sau. Kể từ sau những năm 1960 đến nay khoảng 52 năm khi có vấn đề về dạy nghề cho người lao động, trong khoảng thời gian trên 50 năm đó có 32 năm ngành lao động quản lý và khoảng trên 20 năm ngành giáo dục quản lý. Tuy nhiên, dạy nghề này cũng có 4-5 lần lúc ở đơn vị này, lúc ở đơn vị kia, nhưng đến thời điểm này thì đại biểu có hỏi quan điểm của Bộ trưởng thế nào?

Về ý kiến cá nhân, tôi nghĩ đây là vấn đề hiện tại đang thực hiện có hiệu quả, bởi vì dạy nghề bao giờ cũng gắn với việc làm và gần đây lĩnh vực dạy nghề ngành lao động quản lý thì thuận lợi hơn. Nên chúng tôi thấy nên để như hiện nay là phù hợp. Tuy nhiên vấn đề còn phụ thuộc vào tới đây Trung ương sẽ thảo luận đề án đổi mới căn bản về giáo dục và đào tạo sẽ quyết định.

Ý kiến của đại biểu Trần Văn Minh ở Quảng Ninh đề nghị về hướng giải quyết việc cho những doanh nghiệp khó khăn thì hôm qua tôi đã có dịp trao đổi với các đại biểu. Riêng chỉ có đối với những lao động ở đơn vị chủ bỏ trốn, chúng tôi cũng đã có đề xuất giải quyết một phần chính sách, cũng có một số hướng giải quyết việc làm như tôi trình bày lần trước.

Đề nghị Bộ trưởng cho biết những khó khăn, tồn tại trong phương hướng khắc phục công tác phân công nhiệm vụ phối hợp tổ chức thực hiện giữa các bộ, ngành để đẩy nhanh tiến độ cho đề án dạy nghề. Hôm qua tôi cũng đã trình bày tới đây trong Thông tư 30 của liên bộ đã có quy định tương đối rõ. Tuy nhiên, để làm thật tốt vấn đề này tới đây sau sơ kết 3 năm, chúng tôi sẽ tiếp tục xem xét vấn đề này và có phân công, phân cấp cụ thể hơn cho phù hợp.

Ý kiến của đại biểu Phạm Minh Tấn về thanh niên xây dựng vùng kinh tế mới ở Tây Nguyên thì Bộ đã có đề xuất gì. Báo cáo với các đại biểu, từ sau năm 1975 đến những năm 80, có một bộ phận thanh niên đi vào thực hiện chương trình này, nhưng trong chương trình các pháp lệnh về người có công quy định, đây không phải đối tượng là lực lượng thanh niên xung phong. Chính vì vậy, vừa rồi chúng tôi có nhận được đề nghị của Thái Bình, các đồng chí đề nghị có đề án giải quyết chính sách cho các đối tượng này. Quan điểm chúng tôi đã có đồng ý và chúng ta đề nghị các đồng chí hoàn thiện đề án để trình Chính phủ xem xét.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng: Còn một câu hỏi tôi thấy Bộ trưởng nêu rõ một chút được không? Bây giờ một số người có công nhưng mất hồ sơ gốc, Bộ trưởng nói nghe cũng giải quyết được nhưng vấn đề bây giờ phải có hướng dẫn chính thức. Bây giờ mình đòi hồ sơ gốc thì khó quá. Có hướng dẫn chưa? Nếu chưa có xin Bộ trưởng hướng dẫn. Người có công mất hồ sơ gốc có nghĩa là trải qua thăng trầm lịch sử lắm, gian khổ lắm. Như vậy bây giờ không có hồ sơ gốc thì thôi, các bác, các chú, các anh, các chị không đi làm nữa thì bây giờ làm thế nào. Tôi đề nghị nói rõ chỗ đó ra một chút. Hôm qua Bộ trưởng có nói tán thành với chuẩn nghèo, bảo hiểm y tế của hộ cận nghèo với hộ nghèo bằng nhau. Bộ trưởng có cân nhắc thêm chỗ đó không?

Bộ trưởng Phạm Thị Hải Chuyền: Thứ nhất, trường hợp mất hồ sơ gốc chúng tôi đã báo cáo với Quốc hội những trường hợp này chúng tôi sẽ xem xét với các địa phương, còn hướng dẫn cụ thể xin phép cùng với hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh người có công (sửa đổi) này chúng tôi sẽ có hướng dẫn để các tỉnh làm và chúng tôi sẽ trực tiếp tính lại vấn đề này.

Thứ hai nữa là, hôm qua, có ý kiến hỏi về hỗ trợ bảo hiểm y tế 100% cho hộ cận nghèo, tôi có nói là việc này thuộc của Bộ Y tế và quan điểm thì nên như thế nào. Hiện tại, có 2 đối tượng trong diện này cũng đã được hưởng, tức là hộ mới thoát nghèo mà chuyển sang hộ cận nghèo thì tiếp tục được hưởng bảo hiểm y tế 100% trong vòng 5 năm.

Thứ hai, những đối tượng thật là nghèo, cận nghèo ở các huyện 30a thì cũng được hỗ trợ 100% bảo hiểm y tế. Các đối tượng còn lại tôi sẽ ủng hộ, nhưng tôi là một thành viên Chính phủ, tôi thấy đây cũng là một vấn đề phải cân nhắc. Mặc dù là tư tưởng thì ủng hộ, nhưng còn phụ thuộc vào khả năng ngân sách của Nhà nước. Tới đây để ngành Y tế xem xét và trên cơ sở khả năng ngân sách để quyết định, còn cụ thể tôi thấy giải quyết ngay thì tôi tin cũng không phải thuận lợi bởi vì trên cơ sở khả năng ngân sách, mức hỗ trợ đối với đối tượng này.

Về tiêu chí hộ cận nghèo, như tôi trình bày ngày hôm qua, thứ nhất, đối với mức 400.000 đồng/người/tháng ở nông thôn và 500.000 đồng/người/tháng ở thành thị thì đề nghị có nên cân nhắc xem xét không. Tôi nghĩ rằng trong thời điểm hiện nay chưa xem xét cân nhắc, vì mới có 2 năm (từ 2011, 2012). Tuy nhiên, những ý kiến đại biểu nêu thì để cân nhắc nghiên cứu, cũng vẫn phải trên cơ sở nguồn lực tài chính, khả năng ngân sách của đất nước thì mới quyết định được mức có nâng mức chuẩn hay không.

(Nguồn: Biên bản ghi âm phiên chất vấn chiều 13/6, sáng 14/6 của Văn phòng Quốc hội)