(Chinhphu.vn) - Chiều 12/6 và sáng 13/6, tại kỳ họp thứ 5, Bộ trưởng Bộ NNPTNT Cao Đức Phát đã trả lời chất vấn trước Quốc hội về các vấn đề liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Cổng TTĐT xin giới thiệu nội dung trả lời chất vấn của Bộ trưởng Cao Đức Phát.

Bộ trưởng Cao Đức Phát trả lời chất vấn.

Đại biểu Nguyễn Thị Bích Nhiệm (đoàn Yên Bái): Tôi xin hỏi Bộ trưởng 2 câu hỏi. Thứ nhất, thời gian qua ngành chăn nuôi suy giảm do dịch bệnh gia tăng và chưa được kiểm soát có hiệu quả, giá thức ăn chăn nuôi tăng cao, trong khi đó nhập lậu gia súc, gia cầm, thực phẩm giá rẻ không rõ nguồn gốc, không đảm bảo chất lượng, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, thị trường các sản phẩm chăn nuôi trong nước bị cạnh tranh gay gắt làm cho người sản xuất không có lãi, sản phẩm khó tiêu thụ. Xin hỏi Bộ trưởng đã chỉ đạo giải quyết thế nào, những giải pháp trong thời gian tới?

Thứ hai, liên tiếp nhiều vụ lâm tặc phá rừng nghiêm trọng khắp cả nước, Bộ trưởng đã chỉ đạo xác định các biện pháp gì để khắc phục tình trạng này?

Đại biểu Trần Hoàng Ngân (đoàn TPHCM): Trong thời gian vừa qua ngành nông nghiệp và nông dân Việt Nam đã có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế của đất nước, đặc biệt trong những năm gần đây tôi thấy kim ngạch xuất khẩu ngành nông nghiệp đóng góp vào quá trình cải thiện cán cân thương mại vào năm 2012 đã giúp chúng ta xuất siêu, trong đóng góp đó có giá trị đóng góp nông nghiệp.

Lĩnh vực thứ hai, kiềm chế lạm phát trong năm 2012 chúng ta thấy công lao của ngành nông nghiệp góp phần kiềm chế lạm phát rất thấp. Tuy nhiên chúng ta thấy ngành nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước nhiều khó khăn và người nông dân đang bị lỗ kép, "lỗ kép" ở đây có nghĩa là gì? Là trong năm 2012 và kể cả 5 tháng đầu năm 2013, doanh thu của người nông dân suy giảm nghiêm trọng nhưng chi phí đầu vào, chi phí tiêu dùng của người nông dân vẫn tăng. Vậy tôi xin có hai câu hỏi đặt ra với Bộ trưởng.

Thứ nhất, Bộ trưởng có giải pháp đột phá gì, giải pháp mới nhất, đột phá nhất để chúng ta giúp cho ngành nông nghiệp phát triển bền vững và giúp cho người nông dân thoát nghèo, yên tâm trên mảnh đất sản xuất, kinh doanh của mình?

Câu hỏi thứ hai thuộc về quan điểm. Hiện nay chúng tôi thấy Chính phủ đã đưa rất nhiều gói giải pháp để hỗ trợ cho nền kinh tế và trong đó có cả hỗ trợ cho nông nghiệp và nông dân. Tuy nhiên, chúng tôi thiết nghĩ Chính phủ cần có một gói giải pháp cụ thể, trực tiếp hơn đối với người sản xuất nông nghiệp, đối với hộ nông dân thông qua hỗ trợ tài chính trực tiếp cho người sản xuất nông nghiệp, hỗ trợ về vốn, hỗ trợ cả về lãi suất cho người nông dân để người nông dân có thể yên tâm sản xuất và chăn nuôi. Quan điểm của Bộ trưởng như thế nào về ý kiến này?

Đại biểu Nguyễn Thu Anh (đoàn Lâm Đồng): Dự án hồ chứa nước Đạ Lây, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng, đã được Bộ NNPTNT phê duyệt dự án đầu tư vào năm 2009, với tổng mức đầu tư 246 tỷ đồng, có nhiệm vụ cấp tưới nước cho 1.118ha để canh tác lúa và hoa màu. Năm 2010, Bộ đã bố trí được 7 tỷ đồng cho công trình này và đã được khởi công nhưng sau đó dự án phải dừng lại do chưa bố trí được vốn. Đây là một công trình thủy lợi trọng yếu và lần nào tiếp xúc cử tri, cử tri đều kiến nghị về công trình thủy lợi này. Đoàn đại biểu Quốc hội của tỉnh cũng đã rất nhiều lần kiến nghị với Bộ NNPTNT và Bộ trưởng cũng chỉ trả lời chưa có vốn.

Ngày hôm nay tôi tiếp tục thay mặt cho cử tri Lâm Đồng đề nghị Bộ trưởng cho biết ý kiến và giải pháp của Bộ trưởng như thế nào để tránh thất thoát, lãng phí 7 tỷ đồng đã chi cho công trình thủy lợi này? Nếu tiếp tục cho thi công thì xin Bộ trưởng cho biết thời gian nào công trình này được bố trí vốn để hoàn thành?

Đại biểu Nguyễn Ngọc Hòa (đoàn TPHCM): Tôi xin được Bộ trưởng chia sẻ một vấn đề liên quan đến các yếu tố đầu vào của sản xuất nông nghiệp gồm 3 ý như sau:

Hiện nay chúng ta đã chủ động được bao nhiêu % về cây giống, hạt giống, thuốc bảo vệ thực vật và phân bón cho ngành trồng trọt? Chúng ta đã chủ động bao nhiêu % về con giống, thức ăn gia súc và vắc xin phòng chống bệnh cho vật nuôi? Chất lượng của những loại con giống, cây giống đó của chúng ta đạt đến trình độ nào để có đủ khả năng giúp nông dân tạo ra những sản phẩm có hiệu quả và có chất lượng cạnh tranh được trên thị trường?

Thứ hai, nền nông nghiệp Việt Nam chúng ta liệu có nguy cơ bị lệ thuộc nước ngoài đối với những yếu tố đầu vào này hay không? Chúng ta có những số liệu cho thấy 70% ngành thức ăn gia súc của chúng ta hiện nay đang phụ thuộc vào các doanh nghiệp FDI hoặc hằng năm chúng ta phải chi ra hàng tỷ đô la để nhập khẩu các loại nguyên liệu đầu vào cho ngành chế biến thức ăn gia súc hoặc chúng ta chi ra hàng trăm triệu đô la nhập khẩu các loại hạt giống.

Thứ ba, trước tình trạng đấy ngành nông nghiệp đã có giải pháp gì, mất thời gian bao lâu để khắc phục căn bản tình trạng này và để giúp cho ngành nông nghiệp giải quyết thành công vấn đề này? Bộ trưởng có những yêu cầu, kiến nghị gì đối với Quốc hội để tháo gỡ chính sách cho ngành nông nghiệp có thể giải quyết tốt vấn đề này?

Đại biểu Trần Ngọc Vinh (đoàn TP Hải Phòng): Đề nghị Bộ trưởng làm rõ 2 vấn đề như sau:

Thứ nhất, phải nói rằng Bộ NNPTNT trong thời gian vừa qua đã có rất nhiều giải pháp để tăng năng suất nhằm nâng cao các sản phẩm nông nghiệp, sản lượng tăng là điều đáng mừng. Song rất tiếc chất lượng nông sản lại thấp so với một số nước trong khu vực, dẫn đến hàng ứ đọng, khó tiêu thụ, đưa đến hậu quả được mùa rớt giá. Điều này làm cho nông dân dù đã cố gắng sản xuất đến đâu vẫn chưa thoát được nghèo. Xin Bộ trưởng cho biết Bộ đã xác định chính xác đâu là nguyên nhân chủ yếu và Bộ có những giải pháp nào để nâng cao chất lượng và vị thế của hàng nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế và trong nước?

Vấn đề thứ hai, một vấn đề tưởng như đơn giản mà trong một thời gian dài, với nhiều giải pháp nhưng vẫn không giải quyết được một cách cơ bản. Đó là quản lý, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, giá cả vật tư. Như thuốc bảo vệ thực vật được bán tràn lan, không đảm bảo chất lượng, một số nhà nhập khẩu tham giá rẻ nhập khẩu thuốc ở một số nước chất lượng thấp, ở một số nơi dùng thuốc vượt quá quy định từ 30-35%, làm cho lương thực, thực phẩm không an toàn cho người sử dụng, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe, gây bệnh tật. Đề nghị Bộ trưởng cho chính kiến của Bộ về vấn đề này. Để giải quyết dứt điểm tồn tại trên cần có những quyết sách gì?

Bộ trưởng Cao Đức Phát: Đại biểu Nguyễn Thị Bích Nhiệm, tỉnh Yên Bái, có nêu câu hỏi thứ nhất: Ngành chăn nuôi đang gặp khó khăn, Bộ đã chỉ đạo gì và thời gian tới sẽ chỉ đạo các giải pháp như thế nào?

Báo cáo Quốc hội, trước những khó khăn của ngành chăn nuôi trong thời gian vừa qua, chúng tôi đã tập trung chỉ đạo, thực hiện quyết liệt ba biện pháp.

Thứ nhất, chỉ đạo toàn bộ hệ thống, phối hợp với các địa phương, giám sát và quyết liệt chống dịch cúm gia cầm, dịch tai xanh và lở mồm, long móng, đến nay đã cơ bản khống chế.

Thứ hai, chúng tôi đã tăng cường kiểm soát chất lượng thức ăn và con giống, để đảm bảo rằng trong lúc giá thức ăn cao người nông dân ít nhất cũng phải nhận được thức ăn và con giống chất lượng tương xứng với đồng tiền mà nông dân bỏ ra, đảm bảo các yêu cầu về kỹ thuật.

Thứ ba, chúng tôi phối hợp rất chặt chẽ với các cơ quan có liên quan và các địa phương, nhất là các địa phương biên giới, quyết liệt kiểm soát buôn lậu. Đặc biệt có sự chỉ đạo trực tiếp của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, thời gian vừa qua cơ bản kiểm soát được việc buôn lậu gia cầm, tuy nhiên công việc này cần được tiếp tục.

Thời gian tới, để khắc phục những khó khăn trước mắt và tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ về lâu dài đối với ngành chăn nuôi, chúng tôi đang chủ trương trong khuôn khổ của chương trình tái cơ cấu ngành, đang rà soát để cơ cấu lại ngành chăn nuôi cùng với các địa phương xác định những loại gia súc phù hợp nhất đối với các tiểu vùng.

Thứ hai, tập trung vào giải quyết khâu giống. Hiện nay chúng tôi rà soát thấy năng suất của nhiều loại gia súc, gia cầm của nước ta còn thua kém so với các nước tiên tiến. Vì thế cần phải có sự điều chỉnh quyết liệt trong lĩnh vực này.

Thứ ba, khuyến khích phương thức chế biến thức ăn công nghiệp hoặc tiểu công nghiệp để tạo điều kiện nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn. Đồng thời rà soát quy hoạch, khuyến khích phát triển sản xuất nguyên liệu trong nước để làm giảm giá thành thức ăn.

Thứ tư, phổ biến cho nhân dân những hình thức chăn nuôi và tiến bộ, chuyển dần theo hướng chăn nuôi công nghiệp để đạt hiệu quả cao hơn. Phương hướng chính đặt ra là phải thực hiện đồng bộ các giải pháp nêu trên nhằm làm giảm giá thành chăn nuôi để trong điều kiện thị trường khó khăn, người nông dân vẫn có lãi.

Về câu hỏi thứ hai, hiện nay có tình trạng lâm tặc phá rừng, các giải pháp của Bộ trong vấn đề này.

Trong thời gian vừa qua, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Bộ NNPTNT đã cùng với các bộ và các địa phương hết sức chú trọng và đã tiến hành thực hiện nhiều giải pháp để ngăn chặn tình trạng phá rừng trái pháp luật. Tuy nhiên tình trạng này vẫn tiếp tục xảy ra gay gắt ở nhiều nơi mặc dù số lượng vi phạm có giảm, như 5 tháng đầu năm nay thì những vụ được phát hiện giảm 19% so với cùng kỳ năm trước. Trước tình hình đặt ra, chúng tôi đang chỉ đạo thực hiện các biện pháp như sau:

Thứ nhất, Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị số 1685 và Quyết định số 07 về tăng cường các biện pháp chống phá rừng trái pháp luật và các chính sách về hỗ trợ bảo vệ rừng. Chúng tôi cùng với các địa phương đang tích cực và sẽ tiếp tục nỗ lực để triển khai thực hiện chỉ thị và chính sách này.

Thứ hai, chúng tôi đã xây dựng trình Chính phủ phê duyệt và đang triển khai thực hiện đề án tăng cường năng lực phòng cháy, chữa cháy rừng, đang xây dựng đề án về tăng cường năng lực của hệ thống kiểm lâm. Vừa qua trong số gần 12.000 cán bộ kiểm lâm, đã đưa về xã 5.500 người để hỗ trợ cho cấp ủy và chính quyền các xã triển khai thực hiện pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng. Trong dư luận cũng có ý kiến là ngay trong việc phá rừng có sự tiếp tay của một số cán bộ kiểm lâm thoái hóa, chúng tôi đã chỉ đạo toàn bộ hệ thống kiểm tra và đã cùng với các địa phương thực hiện luân chuyển 815 người, xử lý kỷ luật 127 người và buộc thôi việc 7 người. Đó là những biện pháp trước mắt cần phải triển khai thực hiện, còn những biện pháp lâu dài để hỗ trợ giải quyết những khó khăn của người dân thiếu đất sản xuất hoặc đang có khó khăn trong việc phát triển sản xuất, tăng thu nhập, chúng tôi thấy cần phải tiếp tục phối hợp với các địa phương tiến hành giao đất, khoán rừng, triển khai chủ trương về thu phí dịch vụ môi trường rừng để tăng thêm nguồn kinh phí hỗ trợ cho nỗ lực bảo vệ rừng, giao khoán rừng cho nhân dân để nhân dân quan tâm nhiều hơn và cùng với các hệ thống cơ quan chức năng bảo vệ rừng.

Tuy nhiên, chúng tôi thấy rằng trong toàn bộ nỗ lực này có một việc rất quan trọng, đó là phải giao trách nhiệm và đảm bảo rằng các cấp chính quyền, nhất là chính quyền cơ sở thực hiện tốt tất cả những chỉ thị, chủ trương, chính sách đã được Nhà nước ban hành ở tại địa phương mình.

Đại biểu Trần Hoàng Ngân có nêu câu hỏi: Giải pháp đột phá nào giúp cho nền nông nghiệp phát triển bền vững, nông dân thoát nghèo. Đúng là trước tình hình khó khăn hiện nay của nông nghiệp thì chúng tôi càng thấy rõ hơn những vấn đề và những nguyên nhân đặt ra đối với ngành. Chúng tôi thấy rằng giải pháp quan trọng có tính chất đột phá đối với ngành là triển khai thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả chủ trương của Chính phủ về tái cơ cấu nền kinh tế trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn. Chính vì vậy chúng tôi đã xây dựng đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, phát triển bền vững gắn với xây dựng nông thôn mới. Chúng tôi được biết là Thủ tướng đã phê duyệt đề án này. Chúng tôi đã bàn bạc, phân công trong Bộ và sắp tới sẽ triển khai trong toàn ngành thực hiện. Chỉ có như vậy mới có thể giải quyết một cách căn cơ những tồn tại của ngành và phát triển có hiệu quả hơn. Nếu có thời gian tôi xin được báo cáo cụ thể sau về chủ trương này.

Thứ hai, có cần một gói giải pháp hỗ trợ trực tiếp cho nông dân để nông dân vượt qua khó khăn?

Báo cáo với Quốc hội, hiện nay khó khăn lớn nhất mà ngành nông nghiệp đang gặp phải là thị trường. Lúa đang chín đầy đồng khắp từ Nam tới Bắc, trái cây cũng rất nhiều, lợn gà cũng rất nhiều, cá tra cũng rất nhiều nhưng vì thị trường gặp khó khăn nên giá xuống, thu nhập của nông dân bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Vì thế nên lúc này, một mặt Chính phủ đã có chủ trương như đối với lúa gạo, hỗ trợ cho các doanh nghiệp cấp tốc mua 1 triệu tấn gạo để tạm trữ, để hỗ trợ giữ giá cho nông dân. Khi Chính phủ vừa mới ban hành chủ trương thì mấy hôm nay giá lúa của Đồng bằng sông Cửu Long cũng đã nhích lên, có nơi từ 100-200 đồng/kg.

Mặt khác Chính phủ cũng chủ trương chỉ đạo ngành ngân hàng tăng cường cung cấp tín dụng cho nông dân để nông dân không phải bán vội lúa trả nợ cho ngân hàng cũng như mua các loại vật tư cho vụ tiếp theo, duy trì đàn gia súc của mình. Mặt khác Chính phủ cũng chỉ đạo các bộ phối hợp hỗ trợ các doanh nghiệp thúc đẩy mạnh xuất khẩu để tiêu thụ các loại nông sản cho bà con nông dân, như vậy giữ giá cho nông dân. Nhưng đấy là giải pháp trước mắt, chúng ta cần có những giải pháp lâu dài, những giải pháp lâu dài đó nằm ở trong đề án tái cơ cấu.

Chúng tôi thấy một mặt chúng ta hỗ trợ cho nông dân trực tiếp nhưng mặt khác cũng cần phải đầu tư vào những nhiệm vụ có tính chất lâu dài và căn cơ của ngành, như nghiên cứu và chuyển giao khoa học, kỹ thuật, trong đó đặc biệt là nâng cấp và cải tiến các loại giống cây trồng, vật nuôi, hỗ trợ nông dân để áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật để tăng năng suất, giảm giá thành và nâng cao chất lượng của sản phẩm và tiếp tục đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng để giúp cho nông dân sản xuất ổn định và có hiệu quả. Chắc chắn bà con nông dân ở Bạc Liêu, ở Sóc Trăng những ngày này rất mong có sự hỗ trợ để nhanh chóng cải thiện hệ thống hạ tầng ở các vùng nuôi tôm công nghiệp để phòng, chống dịch bệnh. Ý tôi muốn nói rằng rất cần sự hỗ trợ của Nhà nước mạnh mẽ hơn cho khu vực nông nghiệp, nông thôn.

Đại biểu Nguyễn Thu Anh ở tỉnh Lâm Đồng có nêu vì sao dự án công trình thủy lợi Đạ Lây đã khởi công mà không được tiếp tục triển khai. Báo cáo bà con cử tri của tỉnh Lâm Đồng, tôi luôn luôn ghi ở trong tâm khảm mình lời hứa này với bà con. Nhưng cũng rất mong bà con thông cảm trong điều kiện nguồn vốn của Nhà nước cũng hạn chế, nên cần phải có ưu tiên triển khai thực hiện. Chúng tôi không phải chỉ nhìn vào ngân sách Nhà nước mà cũng đã cố gắng liên hệ với các nhà tài trợ quốc tế. Chúng tôi xin tiếp thu ý kiến này của bà con để tiếp tục làm việc với các bộ chức năng và báo cáo với Chính phủ để tiếp tục thực hiện, đáp ứng mong đợi của bà con.

Đại biểu Nguyễn Ngọc Hòa, TPHCM, hỏi là chúng ta đã chủ động bao nhiêu % các loại giống cây con, vật tư, vật liệu nông nghiệp nước ta có phụ thuộc đầu vào của nước ngoài không và giải pháp gì? Khi nào làm xong và có kiến nghị gì? Báo cáo với Quốc hội, về các loại giống, cây trồng vật nuôi, về cơ bản chúng ta sản xuất ở trong nước, cũng có thông tin nói như giống thì 60-70% phụ thuộc vào nước ngoài. Tôi xin được báo cáo với Quốc hội thông tin đó không chính xác, chúng ta trồng 7,7 triệu ha lúa một năm, trong đó có 700.000 ha lúa lai và 7 triệu ha lúa giống trồng lúa thuần, hầu như chúng ta tự sản xuất lấy và các nhà khoa học của chúng ta chọn tạo ra các giống. Có thể một số giống chúng ta tiếp nhận nguồn gien từ Viện Lúa Quốc tế hoặc một số nước khác, nhưng về các nhà khoa học đã chọn tạo làm cho nó phù hợp với điều kiện của nước Việt Nam và nhân ra phổ biến cho nhân dân, như ở Đồng bằng sông Cửu Long hầu hết như thế. Ở miền Bắc chúng ta có trồng lúa lai thì chúng ta nhập khẩu khoảng 70-75% giống lúa lai của nước bạn Trung Quốc.

Chúng tôi đã cố gắng tạo điều kiện để các nhà khoa học trong nước nghiên cứu chọn tạo ra những giống lúa lai của nước Việt Nam nhưng trong thời gian vừa qua những giống lúa lai của chúng ta làm ra nó có phẩm chất chưa được tốt bằng so với của nước bạn, nên vẫn phải tiếp tục nhập khẩu.

Còn về giống cao su, giống cà phê, giống nhiều loại cây khác chúng ta tự chọn.

Đại biểu cũng có hỏi chất lượng giống thì cũng tùy từng cây, từng con, có loại chất lượng của chúng ta tốt nhưng cũng có loại chúng ta còn thua kém. Như chất lượng về cà phê, năng suất của nước ta đứng hàng đầu thế giới nhưng cà phê của chúng ta là cà phê vối. Còn như Brazil, Colombia là cà phê chè, cà phê chè vẫn được coi loại cà phê có chất lượng cao hơn. Cao su của chúng ta cũng là một nước có năng suất cao hàng đầu trên thế giới thì giống cao su ấy hoàn toàn do Viện Nghiên cứu Cao su của Tập đoàn Công nghiệp Cao su chọn tạo.

Về gia súc, chúng ta có nhập một số con đầu dòng mà trong ngôn từ chuyên môn của chúng tôi là con ông bà, cụ kỵ và về chúng tôi mới tổ chức nhân ra, sản xuất thành giống thương phẩm để nuôi ở trong nước.

Còn đối với phân bón và thuốc bảo vệ thực vật. Về phân bón, nước ta không có nguồn kali nên chúng ta nhập hầu hết phân kali. Chúng ta có mỏ về phốt pho nên chúng ta có sản xuất được phân phốt pho khoảng một nửa nhu cầu. Chúng ta đã có một số nhà máy sản xuất phân đạm đưa vào sản xuất nên tới nay đã tự chủ được khoảng 2/3 lượng phân đạm.

Về thuốc bảo vệ thực vật chúng ta nhập khẩu chủ yếu là nguyên liệu và đóng gói, sang chai ở trong nước. Về vắc xin cũng có nhiều loại vắc xin chúng ta đã tự sản xuất được nhưng cũng có loại vắc xin chúng ta chưa sản xuất được như vắc xin cúm gia cầm, vắc xin tai xanh vẫn phải nhập khẩu từ nước ngoài. Hiện nay chúng tôi cũng đang khuyến khích và hỗ trợ các nhà khoa học trong nước cố gắng chế tạo vắc xin trong nước.

Về thức ăn chăn nuôi, nguyên liệu chính của nó là sản phẩm phụ, phụ phẩm từ ngành lúa gạo là ngô, đỗ tương, khoai lang, sắn v.v... Hiện nay chúng ta nhập khẩu nguyên liệu để chế biến thức ăn công nghiệp mà chủ yếu là ngô, đỗ tương và một phần lúa mì. Các nhà khoa học có tính toán và cũng có báo cáo chúng ta nhập khẩu khoảng 33% nguyên liệu để chế biến thức ăn công nghiệp trong nước, cụ thể như năm ngoái là 1,3 triệu tấn ngô, 1 triệu tấn đỗ tương và 2 triệu tấn khô dầu.

Hiện nay chúng tôi đang cố gắng để thúc đẩy phát triển sản xuất ngô và đỗ tương, về ngô thì có triển vọng vì chúng ta đã có giống năng suất cao nhưng đối với đỗ tương thì sẽ khó hơn vì chúng ta chưa có những giống có năng suất vượt trội. Ở các nước khác người ta trồng từ 4-7 tấn/1ha/1 vụ còn chúng ta chỉ là 1,5-2 tấn, cao lắm cũng chỉ được 2,5-3 tấn/1 vụ nên khả năng cạnh tranh còn kém. Chúng tôi cũng đang rất nỗ lực khuyến khích các nhà khoa học nghiên cứu nhưng cũng chưa có thành công, việc này chúng tôi sẽ phải tiếp tục.

Về giải pháp, xin báo cáo vừa qua Chính phủ cũng rất quan tâm và rất quyết liệt chỉ đạo nên nhiều lĩnh vực chúng ta đã nâng cao được tính tự chủ trong sản xuất giống và nâng cao chất lượng giống để cung cấp cho nông dân để nâng cao năng lực sản xuất như phân đạm, nhiều loại phân bón, vắc xin để cung cấp cho nhân dân. Tuy nhiên công việc này chúng ta cần phải tiếp tục, chúng tôi thấy trong những chính sách khuyến khích quan trọng nhất vẫn là chính sách thuế. Vì thế cho nên chúng tôi cũng kiến nghị với Quốc hội trong quá trình xem xét những luật thuế có liên quan xin có sự quan tâm về có chính sách khuyến khích các nhà đầu tư vào trong lĩnh vực này.

Mặt khác, chúng tôi tiếp tục chỉ đạo hệ thống nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ trong nước để nghiên cứu chọn tạo và phổ biến cho nhân dân. Đồng thời có chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia vào nghiên cứu và chọn tạo chuyển giao cho nông dân những giống và vật tư có chất lượng tốt hơn.

Đại biểu Trần Ngọc Vinh, TP Hải Phòng, có hỏi là nông nghiệp nước ta tăng mạnh về số lượng nhưng chất lượng kém nên khó bán vì thế nên thu nhập của nông dân thấp, đâu là nguyên nhân chính? giải pháp là gì?

Thưa Quốc hội, đúng là thời gian vừa qua chúng ta đã thúc đẩy phát triển mạnh mẽ sản xuất nông nghiệp và hầu hết các mặt hàng nông sản của nước ta đã tăng mạnh về số lượng. Chúng ta không chỉ đáp ứng nhu cầu ở trong nước mà còn có dư để xuất khẩu với số lượng lớn đem lại thu nhập cho bà con nông dân và quốc gia. Năm 2012 chúng ta đã xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản đạt tổng kim ngạch là 27,2 tỷ USD, 5 tháng đầu năm đã xuất khẩu hơn 10 tỷ USD.

Tuy nhiên, đúng là có một số mặt hàng của chúng ta chất lượng thua kém so với những nước sản xuất cùng mặt hàng như về lúa gạo thì chất lượng của chúng ta thuộc loại trung bình khá chứ không phải là loại cao, cà phê của chúng ta như tôi đã báo cáo, chè của chúng ta cũng thế. Chính vì thế nên chúng tôi thấy rằng nhiệm vụ tập trung để nâng cao chất lượng nông sản, nâng cao giá trị gia tăng của nông sản là nhiệm vụ chính của ngành nông nghiệp trong thời gian tới. Đó cũng là mục tiêu mà chúng tôi đề ra trong đề án tái cơ cấu của ngành và để đạt được điều đó phải khắc phục những nguyên nhân:

Thứ nhất là phải có giống tốt để phổ biến cho bà con.

Thứ hai là phải có hệ thống cơ sở hạ tầng tương thích để giúp cho nông dân sản xuất ổn định đạt năng suất cao, nhưng cũng có thể đáp ứng được những yêu cầu về chất lượng và an toàn thực phẩm.

Về quản lý thuốc bảo vệ thực vật và phân bón, thuốc giả, thuốc kém chất lượng, chính kiến của Bộ là như thế nào và quyết sách gì? Báo cáo với Quốc hội, chúng tôi cũng nhận thấy đây là một vấn đề rất bức xúc đối với ngành nông nghiệp và thời gian vừa qua Chính phủ cũng đã chỉ đạo, chúng tôi cũng đã phối hợp với các bộ, ngành rất cố gắng để triển khai thực hiện những biện pháp chính mà chúng tôi đưa ra, đó là xây dựng hành lang pháp lý như đối với thuốc bảo vệ thực vật thì Quốc hội đã có Pháp lệnh về bảo vệ và kiểm dịch thực vật, trong đó có những quy định về quản lý thuốc, chúng tôi đã tham mưu để Chính phủ ban hành 3 nghị định và 7 thông tư để triển khai thực hiện pháp lệnh này.

Hiện nay chúng tôi đã trình với Quốc hội để xem xét, để nâng lên thành luật. Trên cơ sở hành lang pháp lý này, chúng tôi còn xây dựng hàng loạt những tiêu chuẩn kỹ thuật. Mặt khác, chúng tôi đã củng cố hệ thống quản lý thuốc cũng như các loại vật tư, tổ chức cùng với các địa phương thường xuyên tiến hành kiểm tra về mặt sản phẩm, cũng như các cơ sở sản xuất, đấu tranh quyết liệt với việc buôn lậu thì phần lớn thuốc và vật tư giả ở trên thị trường có nguồn gốc từ buôn lậu. Nhưng cũng có cả một phần thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y và phân bón sản xuất ở trong nước, nhưng chất lượng kém thì chúng tôi cũng đã tổ chức để thường xuyên kiểm tra và xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật.

Từ năm 2012, chúng tôi cùng với các địa phương đã có tới 61 tỉnh, thành phố tiến hành tổng kiểm tra tất cả các cơ sở sản xuất kinh doanh, 10 mặt hàng vật tư nông nghiệp chủ lực, lên danh sách đánh giá mức độ đáp ứng yêu cầu xếp hạng A, B, C những cơ sở đạt A và B tức là ít vi phạm và không vi phạm thì kiểm tra ít, những cơ sở loại C thì chúng tôi gia tăng tần suất kiểm soát. Nếu không khắc phục thì chúng tôi cũng đang kiến nghị với cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền sẽ tiến đến đình chỉ hoạt động của những cơ sở này.

Mặt khác, thường xuyên lấy mẫu giám sát chất lượng và xử phạt hành chính cũng như có biện pháp nêu tên trên các phương tiện thông tin đại chúng để nhân dân biết và không sử dụng vật tư kém chất lượng. Chúng tôi thấy việc này cần phải có sự nỗ lực đồng bộ không chỉ của Bộ mà của toàn bộ hệ thống các cơ quan thuộc ngành nông nghiệp trong phạm vi cả nước.

Đại biểu Trần Hoàng Ngân (đoàn TPHCM): Tôi rất chia sẻ với những khó khăn của ngành nông nghiệp và tôi thấy Bộ trưởng cũng đã lắng nghe các câu hỏi một cách nghiêm túc và trả lời. Tôi có một khăn khoăn trong giải pháp của mình, tôi thấy Bộ trưởng còn hiền quá. Nhiều lĩnh vực, thí dụ như ngành vật liệu xây dựng, ngành bất động sản trong thời gian vừa qua khi gặp khó khăn các Bộ trưởng, Thứ thưởng của ngành này thường xuyên tổ chức nhiều hội thảo và đưa ra những yêu cầu đề nghị Quốc hội, đề nghị Chính phủ phải có những giải pháp hỗ trợ. Như ngành nông nghiệp, người nông dân vô cùng khó khăn nhưng tiếng nói của ngành mình tôi thấy còn nhẹ quá. Tôi rất mong Bộ trưởng thể hiện sự mạnh mẽ hơn trong những kiến nghị, giải pháp của mình. Phải gấp rút hỗ trợ cho nông nghiệp và nông dân hiện nay đang gặp rất nhiều khó khăn bằng những gói hỗ trợ hết sức cụ thể.

Đại biểu Tô Văn Tám (đoàn Kon Tum): Tôi xin gửi tới Bộ trưởng hai câu hỏi. Một, từ năm 2006 đến năm 2012 có gần 20.000 ha rừng ở 29 tỉnh, thành chuyển mục đích sử dụng để xây dựng 160 dự án thủy điện. Theo quy định các chủ đầu tư công trình thủy điện phải trồng lại diện tích rừng đã mất nhưng đến nay chỉ mới trồng bù được khoảng 375 ha/20.000 ha. Những nơi đã trồng lại rừng có nơi tỷ lệ cây sống chỉ đạt 60%. Bộ trưởng cho biết vì sao lại có tình trạng này? Trong Báo cáo của Chính phủ báo cáo Quốc hội lúc đấy còn gặp khó khăn, trong đó có việc chủ đầu tư không nghiêm túc chấp hành. Vậy Bộ đã có biện pháp gì đối với các chủ đầu tư? Bộ trưởng sẽ làm gì để sớm khắc phục tình trạng trên?

Hai, đồng bào dân tộc miền núi, Tây Nguyên nói chung và Kon Tum nói riêng đang có khó khăn trồng cà phê, cao su thì thiếu đất sản xuất, thiếu nước tưới. Trồng cây mì mà ta gọi cây sắn thì giá cả bấp bênh, thường bị tư thương lên giá, nên đời sống gặp nhiều khó khăn, nguy cơ nghèo và tái nghèo cao. Bộ trưởng nhìn nhận thực trạng này như thế nào? Bộ trưởng sẽ có giải pháp gì để tháo gỡ khó khăn này cho bà con đồng bào dân tộc thiểu số miền núi và Tây Nguyên?

Đại biểu Lù Thị Lừu (đoàn Lào Cai): Thời gian gần đây dư luận xã hội và báo chí phản ánh thực trạng nhiều mẫu phân bón kém chất lượng được sản xuất tại một số công ty. Cơ quan chức năng ở Đồng bằng sông Cửu Long phát hiện và gửi kiểm nghiệm mẫu tại Trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng 3, TPHCM, cho thấy các chỉ tiêu, mẫu không đạt khi doanh nghiệp chỉ định phúc kiểm tại Trung tâm khảo kiểm nghiệm phân bón vùng Nam Bộ thì hầu hết các mẫu vi phạm đều đạt tiêu chuẩn sau phúc kiểm, kết quả này hoàn toàn trái ngược với kết quả kiểm nghiệm lần 1 tại Trung tâm 3, có nghĩa là sau phúc kiểm thì các mẫu phân bón được kiểm nghiệm tại Trung tâm 3 từ không đạt yêu cầu đã trở thành đạt yêu cầu. Việc này đã làm giảm lòng tin của người tiêu dùng đối với các sản phẩm phân bón, đặc biệt là làm ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng cây trồng, gây thiệt hại cho nông dân, đề nghị Bộ trưởng cho biết thực trạng của vấn đề này thế nào, quan điểm, giải pháp và xử lý của Bộ trưởng ra sao, đồng thời tôi cũng xin gửi một câu hỏi đến Bộ trưởng Bộ Khoa hoạ và Công nghệ, với chức năng là trưởng ngành quản lý lĩnh vực tiêu chuẩn đo lường chất lượng, đề nghị Bộ trưởng cho biết trách nhiệm của mình trong vấn đề này.

Đại biểu Trương Văn Vở (đoàn Đồng Nai): Cho phép tôi được hỏi Bộ trưởng 2 vấn đề.

Vấn đề thứ nhất, vấn đề quản lý, bảo vệ phát triển rừng, nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 6, Khóa XI đã xác định kiên quyết giữ diện tích đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, Nghị quyết 49/2010/QH12 về dự án có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng trên 50 ha rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, vườn quốc gia phải trình Quốc hội cho chủ trương đầu tư. Thời gian qua cử tri rất bức xúc trước việc chuyển mục đích sử dụng vườn quốc gia Cát Tiên để triển khai dự án thủy điện Đồng Nai 6, Đồng Nai 6A. Do sử dụng diện tích rừng lớn trên 370 ha, trong đó vùng lõi vườn quốc gia Cát Tiên gần 140 ha và nhiều lần đề nghị Bộ trưởng phối hợp với bộ, ngành liên quan xem xét trình Chính phủ dừng triển khai lập dự án và loại khỏi quy hoạch điện lực quốc gia đối với 2 dự án này vì không đủ cơ sở pháp lý và có tác động xấu đến môi trường sinh thái, do phải chuyển đổi mục đích sử dụng rừng nguyên sinh. Nhưng đến nay vẫn vô vọng, chờ đợi và chờ đợi. Một lần nữa, đề nghị Bộ trưởng cho biết giải pháp, trách nhiệm Bộ trưởng như thế nào trong tổ chức thực hiện nghị quyết của Trung ương Đảng lần thứ 6, Khóa XI và Nghị quyết 49/2010 của Quốc hội để kiến nghị Chính phủ bảo vệ rừng nguyên sinh, Bộ trưởng có đồng tình với cử tri loại khỏi quy hoạch 2 dự án thủy điện này hay không?

Vấn đề thứ hai, thời gian qua Bộ trưởng đã hứa sẽ phối hợp cùng bộ, ngành liên quan trình Chính phủ sửa đổi, bổ sung, ban hành các quy định như quy định chính sách liên kết sản xuất chế biến, tiêu thụ nông sản, thực phẩm trong nông nghiệp cả trồng trọt và chăn nuôi thay thế Quyết định 80. Chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn thay thế Nghị định 61. Nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả cụ thể, qua nội dung trả lời chất vấn bằng văn bản của Bộ trưởng tại kỳ họp này tôi cho rằng vẫn chưa đáp ứng được lòng mong đợi của cử tri gần 2 năm qua. Tôi đề nghị Bộ trưởng cho biết vì sao chậm tổ chức thực hiện theo chỉ đạo của Chính phủ? Trách nhiệm này thuộc về ai? Lộ trình, giải pháp cụ thể và trách nhiệm Bộ trưởng như thế nào nhằm khắc phục tình trạng tồn tại như trên.

Đại biểu Nguyễn Thị Khá (đoàn Trà Vinh): Tôi xin gửi đến Bộ trưởng 2 câu hỏi như sau:

Một, trong vụ đông xuân vừa qua ở Đồng bằng sông Cửu Long người nông dân sản xuất nông nghiệp rất lo ngại tình hình giá lúa ngày càng sụt giảm. Thủ tướng Chính phủ đã quyết định thời gian mua tạm trữ lúa từ ngày 20/2 đến 31/3/3013. Trong khi đó lịch thời vụ từng vùng, địa phương còn chênh lệnh nhau quá lớn. Doanh nghiệp cho rằng đã mua hết lúa của nông dân còn nông dân thì cho rằng doanh nghiệp mua không hết lúa. Tôi xin hỏi Bộ trưởng có giải pháp gì hợp lý cho vấn đề này khi Thủ tướng Chính phủ cũng vừa ký quyết định thời hạn mua lúa tạm trữ từ ngày 15/6-31/7/2013 sắp tới, tránh tình trạng như trên?

Thứ hai, liên quan đến vấn đề này xin Bộ trưởng cho biết thêm Chính phủ hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp mua tạm trữ 1 triệu tấn gạo sắp tới theo tính toán sơ bộ cũng khoảng 800 tỷ. Tôi và nhiều cử tri muốn biết trong đó người nông dân sản xuất trực tiếp được hưởng lợi từ chủ trương này khoảng bao nhiêu % trên tổng số. Trong khi dư luận xã hội đánh giá lợi ích này chủ yếu nằm ở phần gốc nhiều hơn còn người nông dân sản xuất trực tiếp cực khổ thì nằm ở phần ngọn. Dân gian đã nói "nắm dao thì nắm đằng cán, ai lại nắm đằng lưỡi", nếu nông dân sản xuất trực tiếp mà hưởng lợi ích như thế thì có bảo đảm lãi 30% như chủ trương của Chính phủ hay không? Người nông dân có yên tâm lao động sản xuất bảo đảm an ninh lương thực giữ đất nông nghiệp, tạo việc làm tăng thu nhập hay không trong khi người lao động đang chuyển dịch ngược trở về nông thôn do mất việc làm ở khu vực sản xuất công nghiệp đang bị đình đốn như hiện nay? Bộ trưởng có giải pháp gì của ngành nông nghiệp để bảo đảm thoát nghèo bền vững khu vực nông thôn, góp phần đạt mục tiêu mà Quốc hội đã đề ra?

Đại biểu Nguyễn Thị Hồng Hà (đoàn TP Hà Nội): Để đảm bảo an ninh lương thực ngoài việc giữ 3,8 triệu ha đất trồng lúa, tôi thiết nghĩ cần quan tâm đến vấn đề vật tư nông nghiệp, đặc biệt là chất lượng giống lúa và phân bón. Hiện nay tình trạng giống lúa chất lượng kém, nạn phân bón giả, phân bón không đạt chất lượng vẫn tiếp diễn và đang gây thiệt hại nặng cho người nông dân và ảnh hưởng không nhỏ tới nền nông nghiệp của nước nhà. Tôi xin được gửi tới Bộ trưởng 2 việc cụ thể.

Thứ nhất, tôi được biết năm 2010 qua kiểm tra 23 đơn vị sản xuất kinh doanh phân bón, với 55 mẫu được phân tích thì có tới 64,3% số mẫu không đạt yêu cầu. Năm 2011 kiểm tra 18 đơn vị sản xuất và 7 đơn vị kinh doanh, với 100 mẫu được phân tích thì có 41,8% số mẫu chưa đạt yêu cầu về hàm lượng đạm, lân, kali. Như vậy có thể thấy sản xuất kinh doanh phân bón chưa được quản lý chặt chẽ và đến bây giờ thì phân bón chưa được quy định là mặt hàng sản xuất kinh doanh có điều kiện.

Thứ hai, ở miền Bắc vụ mùa vừa rồi có tình trạng gần 15.000ha diện tích lúa bị lép hạt, không cho thu hoạch vì gieo cấy giống lúa BC15 do Công ty giống cây trồng Thái Bình cung ứng giống, nhiều tỉnh bị thiệt hại nặng. Ở Hà Nội riêng 2 huyện Thạch Thất và Phúc Thọ có khoảng 2.200 ha sử dụng giống BC15. Người nông dân "một nắng hai sương" mong được mùa lúa năng suất cao và thu hoạch lớn nhưng đến nay phải đành lòng cắt lúa về làm rơm cho trâu bò ăn, có thể thấy dù nguyên nhân gì đi chăng nữa thì phần thiệt hại vẫn thuộc về người nông dân.

Xin Bộ trưởng cho biết trước 2 việc cụ thể như trên thì Bộ đã xử lý, đã giải quyết cụ thể như thế nào, trách nhiệm của Bộ đến đâu trong việc quản lý Nhà nước về chất lượng vật tư nông nghiệp, về giống lúa, về phân bón như tôi đã nêu. Công tác quản lý Nhà nước của Bộ đối với việc sản xuất và kinh doanh giống lúa, phân bón để đảm bảo chất lượng và để an lòng người dân lao động sản xuất.

Bộ trưởng Cao Đức Phát: Trước hết, tôi xin cảm ơn những tình cảm của đại biểu Trần Hoàng Ngân dành cho nông nghiệp, nông thôn và bà con nông dân. Chắc bà con nông dân sẽ rất cảm kích trước lời phát biểu của đại biểu.

Ý kiến của đại biểu Tô Văn Tám về vấn đề trồng lại rừng mà các cơ sở thủy điện đã lấy, chuyển đổi mục đích và phải trồng lại theo quy định của luật. Như báo cáo của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, thời gian vừa qua các doanh nghiệp đã thực hiện chưa tốt, chưa nghiêm túc. Về việc này chúng tôi đã phối hợp với Bộ Công Thương và các địa phương có liên quan kiểm tra và thấy rằng các doanh nghiệp có phản ánh khó khăn chính mà họ gặp phải là việc bố trí diện tích đất đai để trồng thay thực hiện. Chúng tôi đã phối hợp với các địa phương rà soát quy hoạch để có sự hướng dẫn cho các doanh nghiệp. Mặt khác, chúng tôi cũng đề nghị với Chính phủ một chính sách cho phép các doanh nghiệp gặp khó khăn thực sự về đất đai sẽ được nộp tiền vào ngân sách để phân bổ cho các địa phương khác có quỹ đất lớn hơn để trồng rừng. Chúng tôi xin nhận trách nhiệm sẽ tiếp tục cùng các địa phương và các bộ đôn đốc để tạo ra sự chuyển biến thực sự, thực hiện nghiêm túc quy định của luật pháp.

Thứ hai, việc trồng cao su, cà phê và sắn ở trên Tây Nguyên gặp nhiều khó khăn và đời sống của bà con nông dân cũng gặp khó khăn. Bây giờ giải pháp như thế nào. Báo cáo với Quốc hội không cứ ở Tây Nguyên, rất nhiều vùng khác chúng ta phải giải quyết vấn đề này một cách tổng thể mà cụ thể là ở từng xã trong khuôn khổ của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Chúng tôi đề nghị từng xã rà soát lại quỹ đất và xác định cụ thể cây trồng, vật nuôi phù hợp nhất trên địa bàn của mình và hướng dẫn, hỗ trợ nhân dân sản xuất có hiệu quả, không làm theo phong trào. Không phải chỗ nào cũng trồng được cà phê nếu mà không có nước và tầng dày của đất thấp. Hay tương tự như vậy đối với sắn cũng phải có sự hướng dẫn để làm một cách có hiệu quả. Tuy nhiên tôi xin báo cáo, không phải chỉ nhìn vào cao su, cà phê và cây sắn mà chúng ta còn phải tùy theo lợi thế của từng nơi và giúp cho nhân dân sản xuất có hiệu quả, có thu nhập cao hơn, có như vậy mới có thể thoát nghèo bền vững.

Đại biểu Lù Thị Lừu hỏi  về vấn đề phân bón kém chất lượng và thực trạng, quan điểm, giải pháp như thế nào?

Báo cáo với Quốc hội, quan điểm của chúng tôi thực hiện các biện pháp đồng bộ từ xây dựng hành lang pháp lý, xây dựng hệ thống kiểm tra, chỉ đạo, phối hợp với các bộ, các địa phương để triển khai thực hiện các quy định của pháp luật một cách nghiêm túc nhất. Tuy nhiên ở đây xin Bộ trưởng Bộ Công Thương có giải trình thêm vì theo quy định của luật pháp, quản lý phân bón vô cơ do Bộ Công Thương quản lý. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn được giao quản lý phân hữu cơ và các loại phân vi sinh.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng: Tức là hàng hóa phân bón sản xuất ra thì không đạt yêu cầu nhưng mang lên Trung tâm kiểm nghiệm 3 nói là đạt yêu cầu rồi lại mang về dùng thì hóa ra lại không đạt yêu cầu. Đại biểu hỏi vậy Trung tâm ấy làm ăn thế nào, trách nhiệm của Bộ trưởng ra làm sao?

Bộ trưởng Cao Đức Phát: Nếu tôi nhớ không lầm Trung tâm này không thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn mà thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, nên đại biểu có hỏi trách nhiệm. Còn nếu đơn vị nào thuộc Bộ NNTNT chúng tôi sẽ kiểm tra.

Hiện nay chúng tôi thực hiện chủ trương xã hội hóa kiểm tra và xác định công nhận một số phòng thí nghiệm được phép tham gia để kiểm định và xác nhận hợp chuẩn, hợp quy và chỉ những phòng thí nghiệm ấy mới có quyền xét nghiệm và công bố, nhưng chúng tôi cũng thường xuyên kiểm tra lại việc thực hiện nhiệm vụ của các phòng thí nghiệm này để đảm bảo họ thực hiện nghiêm túc theo luật pháp. Còn nếu có vi phạm sẽ xử lý nghiêm túc theo luật pháp.

Đại biểu Trương Văn Vở, tỉnh Đồng Nai, có hỏi về vấn đề của các Công trình thủy điện 6 và 6A.

Báo cáo với Quốc hội, bản thân cá nhân tôi đã vào tận nơi công trình để kiểm tra về tình trạng rừng của công trình, mặc dù tôi đến được 1 công trình, tôi cũng biết đồng chí Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội và nhiều đồng chí khác đã đến tận nơi. Quan điểm của tôi là chúng ta nên hạn chế việc lấy rừng ở các khu rừng đã được quy hoạch là rừng đặc dụng hay rừng phòng hộ ở những nơi xung yếu, cái đó vì lợi ích chung của cả xã hội. Trong trường hợp thật cần thiết phải thực hiện theo quy trình của luật pháp.

Thời gian vừa qua chúng ta đã cho phép chuyển đổi 25.000 ha rừng đặc dụng và phòng hộ để làm thủy điện và nhiều công trình khác. Nhưng về thẩm quyền chúng tôi sẽ có trách nhiệm kiểm tra và báo cáo với Chính phủ để Chính phủ báo cáo với Quốc hội thực trạng rừng đó là như thế nào, nếu lấy 327 ha bao gồm 137 ha của Vườn quốc gia Cát Tiên thì nó sẽ ảnh hưởng như thế nào đến Vườn quốc gia Cát Tiên. Chúng tôi đã làm việc đó và đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ, trên cơ sở đó Bộ Tài nguyên và Môi trường tổng hợp về tác động môi trường của hai công trình này.

Trên cơ sở báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Chính phủ sẽ báo cáo Quốc hội theo Nghị quyết 49 vì công trình này sử dụng trên 50 ha đất rừng của Vườn quốc gia, cho nên về mặt chủ trương có làm hay không là thuộc thẩm quyền của Quốc hội, chúng tôi sẽ báo cáo trung thực những tác động của việc lấy đất và chuyển đổi mục đích sử dụng đối với Vườn quốc gia.

Về việc sửa đổi Quyết định 80 và Nghị định 61, tại sao đến nay chưa thực hiện xong? Báo cáo Quốc hội, chúng tôi thấy rằng việc khuyến khích các hình thức liên kết giữa nông dân và các doanh nghiệp là một phương thức sản xuất chúng ta nên khuyến khích. Vì vậy, từ năm 2002 chúng tôi đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 80 để khuyến khích, nhiều địa phương, doanh nghiệp và bà con nông dân đã triển khai thực hiện theo chủ trương này, nhưng kết quả không nhiều. Từ năm 2007 chúng tôi đã rà soát, đánh giá 5 năm thực hiện và thấy rằng quyết định này có một số tồn tại, trong đó tồn tại lớn nhất là cơ chế xử lý các vi phạm hợp đồng. Trong quyết định có một số chính sách chúng ta đưa ra chưa được phù hợp với những cam kết của chúng ta với WTO. Vì thế Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ đạo và các bộ, ngành đã xử lý những tồn tại này thông qua việc ban hành nhiều văn bản luật pháp khác, đặc biệt là thông qua việc ban hành các văn bản hướng dẫn Luật Thương mại và Luật Dân sự, những tồn tại về cơ bản đã được giải quyết khi hướng dẫn hai luật này.

Đồng thời Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị số 25 về việc tăng cường khuyến khích tiêu thụ nông sản cho nông dân thông qua hợp đồng. Tới nay Bộ Nông nghiệp cùng với các địa phương tiếp tục triển khai thực hiện chỉ thị này. Mặt khác chúng tôi vẫn nghiên cứu các hình thức liên kết, cũng đã có tờ trình trình với Thủ tướng Chính phủ. Đặc biệt gần đây, mô hình cánh đồng mẫu lớn được nhiều địa phương hưởng ứng nên chúng tôi thay vì đề xuất ban hành một chính sách chung cho các hình thức liên kết thì chúng tôi đề xuất Thủ tướng Chính phủ ban hành chính sách khuyến khích phát triển mô hình cánh đồng mẫu lớn là một hình thức cụ thể. Mặc khác chúng tôi cũng đang làm thí điểm để rút kinh nghiệm, báo cáo với Chính phủ để ban hành chính sách khuyến khích hợp tác công tư cũng là một hình thức hợp tác giữa Nước, doanh nghiệp và nhân dân.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng: Đồng chí Bộ trưởng, đại biểu hỏi đơn giản hơn, đồng chí lần trước có hứa là có mấy chính sách này nhưng lần này vẫn chưa thấy ban hành thì bao giờ ban hành được?

Bộ trưởng Cao Đức Phát: Chúng tôi đã có Tờ trình lên Thủ tướng Chính phủ ngày 29/3 và hiện nay Văn phòng Chính phủ đang cùng với chúng tôi tập hợp ý kiến của các bộ và sẽ trình lên Thủ tướng Chính phủ trong thời gian gần nhất, các thủ tục về cơ bản đã xong.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng: Như vậy tức là tất cả quy trình để trình là xong rồi, chỉ còn chờ Thủ tướng Chính phủ xem xét là có thể ký được.

Bộ trưởng Cao Đức Phát: Về ý kiến của đại biểu Nguyễn Thị Khá việc mua tạm trữ thì nó không trúng được về lịch thời vụ. Báo cáo với Quốc hội, chúng tôi cân nhắc đề xuất với Chính phủ mua tạm trữ như một biện pháp hỗ trợ thị trường chứ không phải là bao tiêu nông sản cho nông dân vào thời điểm thu hoạch rộ nhất và có tác động hiệu quả nhất. Vì thế nên nó không thể phù hợp với một số địa phương ở Đồng bằng sông Cửu Long. Hiện nay tỉnh Đồng Tháp đã thu hoạch khoảng 70% diện tích lúa hè thu nhưng tỉnh Bến Tre thì mới bắt đầu xuống giống, trong khi tỉnh Hậu Giang thu hoạch 10% diện tích lúa hè thu thì tỉnh An Giang mới bắt đầu thu hoạch, tỉnh Tiền Giang thu hoạch hết lúa xuân hè và đang bắt đầu xuống giống lúa hè thu, nên không thể nào có một chương trình đáp ứng tất cả các địa phương.

Chúng tôi cân nhắc, tại sao chúng tôi đề xuất mua từ ngày 15/6 cho đến ngày 31/7 là bởi vì trong tháng 5 theo tính toán của chúng tôi, Đồng bằng sông Cửu Long sẽ thu hoạch khoảng 800.000 tấn lúa, tháng 6 là 900.000 tấn lúa, tháng 7 là 3,7 triệu và tháng 8 là 3,8 triệu tấn lúa. Vì thế có những diện tích bây giờ mới xuống giống, nên chúng tôi mới đề xuất cân nhắc là như thế và với số lượng như thế để tác động, hỗ trợ thị trường, còn giá trong nước là theo giá thế giới, còn chúng ta mua tạm trữ là để giúp cho tiêu thụ và giữ cho giá không bị xuống theo cách vào lúc thu hoạch rộ.

Có ý kiến nói là doanh nghiệp được lợi 800 tỷ đồng, nông dân được bao nhiêu? Báo cáo với Quốc hội để mua 1 triệu tấn quỹ gạo thì các doanh nghiệp được cung cấp một nguồn tín dụng khoảng 7 nghìn tỷ đồng với lãi suất 0% trong 3 tháng thì chắc là nó không đến 800 tỷ. Rõ ràng phần này thì vào doanh nghiệp, nhưng phần nông dân được hưởng lợi là phần giá được nâng lên và thực tế ở vụ đông xuân giá đã nâng lên khi trong thời điểm mua tạm trữ khoảng 100-150 đồng/kg, với hàng triệu tấn lúa thì số bà con được hưởng cũng là một khoản tiền tương đối lớn.

Ngay với vụ hè thu này Chính phủ vừa mới công bố thì giá cũng đã lên khoảng 100-200 đồng theo Báo cáo của Giám đốc Sở Nông nghiệp với chúng tôi. Giải pháp căn cơ hơn đối với ngành lúa, gạo Việt Nam thì chúng tôi thấy rằng cũng có rất nhiều việc phải làm, trong đó ngay từ vụ tới đây khi mà Đồng Tháp đã thu hoạch xong lúa hè thu vào vụ thu đông thì chúng tôi cũng liên tục làm việc với các địa phương đề xuất là phải có sự điều chỉnh về cơ cấu mùa vụ, cơ cấu giống.

Đối với một số địa phương như ven biển miền Trung hoặc trung du miền núi phía Bắc thì chúng tôi kêu gọi và đề xuất với Chính phủ có chính sách hỗ trợ để nhân dân chuyển bước là những diện tích trồng lúa kém hiệu quả sang trồng ngô, trồng đỗ tương và những sản phẩm mà nước ta đang phải nhập khẩu và có thị trường tiêu thụ, giá ngô 7.000 đồng và giá lúa 5.000 đồng.

Đại biểu Nguyễn Thị Hồng Hà, đoàn Hà Nội, có hỏi về chất lượng phân bón, tôi xin phép nhờ Bộ trưởng Bộ Công Thương trả lời luôn về vấn đề này, vì chị hỏi đến phân đạm và phân NPK.

Đại biểu có hỏi về giống lúa mà cụ thể là giống lúa BC15 do Tổng Công ty giống Thái Bình cung cấp. Báo cáo Quốc hội, giống lúa này là một giống lúa có năng suất cao và chất lượng gạo cũng khá ngon, được trồng khoảng 100.000ha ở các địa phương miền Bắc. Nhưng thời gian vừa qua đã có một số diện tích, cho đến giờ này chúng tôi tổng hợp, khoảng 20.000ha bị lép ở các mức độ khác nhau nguyên nhân là bà con gieo cấy ở nhiều thời điểm khác nhau. Nhưng những nơi nào mà nông dân gieo cấy để cây lúa phân hóa đòng ở bước 5 và 6 từ ngày 7-14/4, đúng vào đợt gió mùa đông bắc làm cho nhiệt độ ở các địa phương miền Bắc xuống dưới 17 độ, có nơi chúng tôi đo được là 16,2 độ thì những trà lúa đó bị lép. Đó là nguyên nhân mà các nhà khoa học của Bộ Nông nghiệp và các cơ quan liên quan đã xác định. Tỉnh Vĩnh Phúc có nói do chất lượng giống kém, chúng tôi đã cử Trung tâm Khảo nghiệm Giống của Bộ cùng với Sở Nông nghiệp rà soát lại, anh em có báo cáo không phải do chất lượng giống mà do nguyên nhân như tôi đã báo cáo.

Chúng tôi đã báo cáo với Chính phủ đề nghị coi đây là một thiệt hại do thiên tai gây ra, vì thế nên đề nghị Chính phủ có chính sách hỗ trợ theo Quyết định 149 và Quyết định 49 của Thủ tướng Chính phủ cũng như theo Nghị định 42 của Chính phủ và Tổng Công ty giống Thái Bình đã hỗ trợ nông dân 1.000 tấn giống.

Đại biểu Trương Văn Vở (đoàn Đồng Nai): Qua phần trả lời của Bộ trưởng tôi không hỏi gì thêm nhưng qua đây cho phép tôi đại diện cho cử tri Đồng Nai trân trọng cảm ơn Bộ trưởng, nội dung trả lời của Bộ trưởng thể hiện trách nhiệm của mình đối với cử tri nói chung và ở Đồng Nai nói riêng. Quan điểm của Bộ trưởng tôi cho là rất rõ ràng trong thời gian sắp tới sẽ tổ chức thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương lần thứ 6 Khóa XI của Đảng và Nghị quyết 49 của Quốc hội. Tôi có 2 kỳ vọng.

Kỳ vọng thứ nhất, tôi rất mong Bộ trưởng với tinh thần trách nhiệm của mình sẽ cùng bộ, ngành liên quan, nhất là Bộ Công Thương sớm trình Chính phủ loại khỏi kế hoạch 2 dự án thủy điện để cử tri yên lòng.

Thứ hai, chúng tôi kỳ vọng Bộ trưởng sẽ thực hiện đúng lời hứa về tham mưu Chính phủ ban hành thể chế, chính sách để giải quyết khó khăn cho nông dân trong tiêu thụ nông sản thực phẩm. Xin trân trọng cảm ơn Bộ trưởng.

Đại biểu Nguyễn Thị Khá (đoàn Trà Vinh): Tôi rất cảm ơn Bộ trưởng. Tôi xin hỏi thêm với tình hình giá lúa như hiện nay nông dân sản xuất có lãi đạt 30% như chủ trương chưa? Tôi chưa nghe Bộ trưởng trả lời.

Thứ hai, trong khi người lao động đang chuyển dịch ngược trở về nông thôn do mất việc làm ở khu vực sản xuất công nghiệp đang bị đình đốn như hiện nay, Bộ trưởng có giải pháp gì ở ngành nông nghiệp để giúp cho đối tượng này có việc làm, có lao động.

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Quân: Liên quan đến vấn đề chất lượng phân bón, trong ý kiến của một số đại biểu Quốc hội có hỏi chúng tôi cũng xin báo cáo với Quốc hội:

Về việc kiểm tra chất lượng sản phẩm hàng hóa thuộc phạm vi quản lý Nhà nước của Bộ Khoa học và Công nghệ, trong đó có phân bón. Trong thời gian vừa qua có hiện tượng như các đại biểu có phản ánh Trung tâm 3, tức là Trung tâm Kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng 3 tại TPHCM, có xác nhận về chất lượng phân bón đảm bảo nhưng sau đó lại phát hiện phân bón đó không đảm bảo chất lượng. Về việc này chúng tôi xin báo cáo với Quốc hội, hiện nay Trung tâm 3 của chúng tôi đã được đầu tư từ nhiều năm về tiềm lực, trang thiết bị, đảm bảo độ tin cậy trong quá trình kiểm nghiệm chất lượng sản phẩm hàng hóa. Đặc biệt là phát hiện những hàng kém chất lượng hoặc những hàng hóa có sản phẩm độc hại ảnh hưởng đến sức khỏe của nhân dân. Tuy nhiên trong sự việc đại biểu phản ảnh có thể có 2 tình huống xảy ra:

Thứ nhất, bản thân doanh nghiệp khi sản xuất hàng hóa phải đăng ký chất lượng với cơ quan Nhà nước nhưng mẫu họ đem đăng ký chất lượng và sản phẩm thực tế của họ không giống nhau. Mẫu họ đem đi đăng ký để lấy giấy chứng nhận là mẫu khác còn khi họ sản xuất là mẫu khác.

Thứ hai, có tình trạng các doanh nghiệp khi lưu thông sản phẩm hàng hóa của mình trên thị trường, có thể do các cơ quan thanh kiểm tra như quản lý thị trường, các đoàn thanh tra có thể phát hiện những sản phẩm của họ không đạt yêu cầu. Nếu sản phẩm đó được lấy mẫu đem đi kiểm nghiệm ở các trung tâm kỹ thuật thì mẫu đó với sản phẩm gốc của họ ở doanh nghiệp sản xuất có thể không giống nhau. Cho nên ở đây vai trò của cơ quan thanh tra, kiểm tra, đặc biệt là quản lý thị trường cùng với thanh tra chuyên ngành là quan trọng.

Trước đây chúng tôi làm công tác thanh tra tương đối tốt, tuy nhiên theo Luật Thanh tra mới thì thanh tra chuyên ngành về tiêu chuẩn chất lượng không tồn tại, bây giờ chỉ còn thanh tra Nhà nước ở sở hoặc bộ, cho nên các đội kiểm tra liên ngành thường chúng tôi phải phối hợp với quản lý thị trường.

Vấn đề tiếp theo là cơ chế, chế tài xử phạt của chúng ta còn quá nhẹ, không đủ sức răn đe, nhiều khi đi kiểm tra nhưng vì xử phạt nhẹ cho nên người ta vẫn tiếp tục làm hàng giả và tái phạm. Trong Luật Chất lượng đã được Quốc hội thông qua năm 2008 đã quy định trước đó là thanh tra chuyên ngành về tiêu chuẩn chất lượng được quyền xử phạt, mức xử phạt tương đối thỏa đáng. Nhưng bây giờ với Luật Thanh tra mới không còn thanh tra chuyên ngành về tiêu chuẩn chất lượng cho nên nhiều khi phát hiện được nhưng không đủ thẩm quyền xử phạt và người ta tẩu tán tang vật.

Chúng tôi đã nhận thức được vấn đề này cho nên trong thời gian vừa qua chúng tôi đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 317 về nâng cao năng lực của các trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và các trung tâm kỹ thuật về tiêu chuẩn chất lượng ở 63 tỉnh, thành phố. Nhưng vào thời điểm này nguồn ngân sách đầu tư cho mua sắm trang thiết bị và đào tạo cán bộ bị hạn chế, do chúng ta đang gặp khó khăn về nguồn vốn đầu tư, vì thế mà chương trình quốc gia về nâng cao năng lực cho các trung tâm kỹ thuật đang thực hiện nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu. Chúng tôi sẽ cố gắng trong thời gian tới nâng cao năng lực của các trung tâm kỹ thuật của các Sở Khoa học-Công nghệ nằm ở 63 tỉnh thành để đáp ứng việc này. Vì hiện nay toàn bộ khu vực miền Nam, Đồng bằng sông Cửu Long chỉ có 1 trung tâm kỹ thuật tại TPCHM là Trung tâm 3 thì không đủ năng lực để giúp cho bà con nông dân ở tất cả các tỉnh phía Nam.

Chúng tôi mong muốn tất cả các trung tâm kỹ thuật của các Sở Khoa học-Công nghệ ở 63 tỉnh đều phải được trang bị đủ năng lực để kiểm nghiệm, kiểm tra chất lượng hàng hóa của các địa phương. Xin báo cáo Quốc hội, chúng tôi sẽ kết hợp chặt chẽ với Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp để làm tốt việc giám định chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Xin cảm ơn Quốc hội.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng: Đồng chí Bộ trưởng nói như thế nó có vấn đề chưa rõ. Đại biểu Lù Thị Lừu hỏi một trường hợp cụ thể đấy là mang đến kiểm định chất lượng phân bón ở Trung tâm 3 của Bộ Khoa học-Công nghệ nói là tốt, nhưng sau đó kiểm tra lại thấy nó không tốt. Chỗ này tôi đề nghị đại biểu phản ánh cụ thể với Bộ trưởng trường hợp này và đề nghị Bộ trưởng cho kiểm tra cụ thể để xem đúng trung tâm này làm như thế không? Nếu Bộ trưởng đưa ra 2-3 dự báo như vậy sợ không đúng với trường hợp thực tế.

Thứ hai, tình hình kiểm tra, kiểm định chất lượng sản phẩm ở trên khắp nước này nghe Bộ trưởng nói thế cũng đáng lo. Bây giờ từ mũ bảo hiểm cũng phải kiểm tra, cho nên cái gì cũng phải qua Bộ Khoa học và các Trung tâm kiểm định chất lượng kiểm tra. Mong Bộ trưởng có đề án để trình với Chính phủ việc nâng cao năng lực kiểm tra và đảm bảo yêu cầu giải quyết. Bây giờ chất lượng sai, hàng giả hay hàng thật, chất lượng đảm bảo hay không đảm bảo, sản xuất đảm bảo hay không, hàng hoá buôn bán đảm bảo hay không, xuất nhập khẩu đảm bảo hay không đều phải kiểm tra chất lượng. Nếu chúng ta không kiểm tra, không làm rõ sai đúng, có chất lượng hay không có chất lượng, giả hay thật thì dân chúng ta đi dùng hàng giả mãi, đi theo đó là chế tài xử phạt. Đề nghị Bộ Khoa học các đồng chí chú ý cho việc này.

Xin mời Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng nói thêm cho cả câu chuyện trồng bù rừng vào Dự án thuỷ điện. Nếu đồng chí có ý kiến gì thêm về Thuỷ điện Đồng Nai xin đồng chí cho ý kiến thêm. Ngoài ra quản lý đầu vào của vật tư nông nghiệp kể cả vô cơ, hữu cơ trên thị trường thuộc về Bộ Công Thương.

Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng: Được sự gợi ý của Chủ tịch Quốc hội, tiếp lời Bộ trưởng Cao Đức Phát và Bộ trưởng Nguyễn Quân, chúng tôi xin được báo cáo với Quốc hội một số ý như thế này.

Trước hết về Thuỷ điện Đồng Nai 6, Đồng Nai 6a theo ý kiến của đại biểu Trương Văn Vở, trong Báo cáo của Chính phủ chúng tôi được sự uỷ quyền của Thủ tướng cũng đã báo cáo rõ với Quốc hội và tại phiên thảo luận về tình hình kinh -xã hội năm 2012 và 5 tháng đầu năm 2013 chúng tôi cũng đã có dịp báo cáo lại. Tinh thần là hiện nay dự án đang ở trong giai đoạn được Bộ Tài nguyên và Môi trường đánh giá báo cáo về tác động môi trường và kết quả như thế nào thì Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ báo cáo với Chính phủ, Chính phủ sẽ báo cáo với Quốc hội. Chúng tôi khẳng định nếu tác động xấu đến môi trường trong đó có ảnh hưởng lớn đến Vườn quốc gia Cát Tiên chắc chắn Chính phủ sẽ kiến nghị với Quốc hội không xem xét. Đó là ý thứ nhất.

Ý thứ hai, báo cáo với Quốc hội đó là vấn đề về vật tư nông nghiệp. Đúng là hiện nay tình trạng hàng giả, hàng kém chất lượng đối với một số loại vật tư nông nghiệp, đặc biệt phân bón, phân bón vô cơ vẫn là một nhức nhối trong dư luận và nó gây tác hại không nhỏ đến quyền lợi của người nông dân cũng như đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm của Việt Nam.

Chính vì thế trong thời gian vừa qua các lực lượng chức năng, trong đó có lực lượng quản lý thị trường thuộc ngành công thương, thanh tra của Bộ Khoa học-Công nghệ đã phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng với các địa phương cũng đã triển khai nhiều biện pháp để làm thế nào đấu tranh chống lại nạn hàng giả, hàng kém chất lượng này trong phân bón, tuy nhiên kết quả chưa được như mong muốn.

Báo cáo với Quốc hội, trong các loại phân vô cơ có diễn biến phức tạp về tình trạng hàng giả, hàng kém chất lượng thì tập trung vào phân bón NPK và một số loại phân vi sinh, chứ còn phân đạm và phân DAP cho đến nay chúng tôi cũng chưa phát hiện được trường hợp làm giả như các trường hợp với phân NPK và phân vi sinh.

Lý do hiệu quả công tác phòng, chống gian lận thương mại thể hiện qua chống hàng giả và hàng kém chất lượng đối với phân bón, có hai lý do chính:

Một, khung pháp lý của chúng ta hiện nay điều chỉnh hoạt động sản xuất, kinh doanh phân bón vô cơ mặc dù đã được quan tâm nhưng cùng với thời gian cũng đã có một số bất cập. Hiện nay việc quản lý sản xuất, kinh doanh phân bón được thực hiện theo Nghị định số 113 ban hành từ tháng 10/2003 và có được sửa đổi bổ sung tại Nghị định số 191 ban hành tháng 12/2007, tuy nhiên có một số bất cập. Cho nên tháng giêng vừa qua Thủ tướng Chính phủ đã giao cho Bộ Công Thương chủ trì phối hợp với các bộ, ngành có liên quan xây dựng một dự thảo nghị định mới thay thế cho hai nghị định này, với tinh thần làm sao có thể bao quát được các diễn biến mới của tình hình sản xuất kinh doanh phân bón không để tạo ra kẽ hở cho các hoạt động vi phạm về thương mại trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh phân bón.

Báo cáo với Quốc hội đến nay thì dự thảo Nghị định đã được xây dựng xong và đang ở trong quá trình gửi Bộ Tư pháp thẩm định, chúng tôi dự kiến là trong tuần thứ ba của tháng 6, tức là khoảng cuối tháng 6 này thì Bộ Tư pháp có thể sẽ xem xét, thẩm định và trình với Chính phủ ban hành, hy vọng với nghị định mới nó sẽ tạo thêm điều kiện thuận lợi về mặt pháp lý cho hoạt động quản lý sản xuất kinh doanh phân bón.

Thứ hai, như Bộ trưởng Nguyễn Quân đã nói, một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng vi phạm trong sản xuất, kinh doanh phân bón là chế tài xử lý vi phạm chưa đủ sức răn đe. Chính vì thế nhiều cơ sở đã bị phát hiện sai phạm, bị xử phạt, nhưng vẫn tái phạm, cho nên cũng theo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công Thương cũng đã chủ trì và xây dựng dự thảo nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hóa chất phân bón và đến nay thì dự thảo đã hoàn thành và đã gửi Bộ Tư pháp thẩm định.

Chúng tôi cũng hy vọng là trong thời gian tới thì Bộ Tư pháp sẽ thẩm định xong và trình Chính phủ xem xét để ban hành. Tất nhiên với 2 nghị định này thì mới chỉ là công cụ pháp lý, còn điều quan trọng là các lực lượng chức năng phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, xử phạt để nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực phân bón.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng: Đồng chí có nói thêm gì trồng rừng để bù vào thủy điện không?

Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng: Chúng tôi cũng có trong Báo cáo gửi Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội để tổng hợp báo cáo với Quốc hội xung quanh giám sát về thực hiện việc trồng rừng đối với các dự án thủy điện và trong Báo cáo của Chính phủ riêng về nội dung này thì chúng tôi cũng đã báo cáo.

Tuy nhiên, chúng tôi xin được báo cáo thêm sau ý kiến của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân. Đúng là hiện nay các dự án thủy điện cũng đã sử dụng một diện tích khá lớn các rừng để phục vụ cho làm hồ, cho các công trình thủy điện và theo quy định thì anh lấy bao nhiêu diện tích đất rừng, anh phải trồng bù lại chừng đó. Đây là theo quy định của pháp luật, tuy nhiên trên thực tế thì đúng là việc thực hiện còn rất hạn chế, trong số hơn 20.000 ha cần phải trồng bù thì mình trồng tỷ lệ rất ít.

Nguyên nhân thì có 2 nguyên nhân. Thứ nhất là một số chủ đầu tư chưa nghiêm túc trong việc thực hiện, vấn đề này trong Báo cáo của Chính phủ cũng đã nêu rõ và Chính phủ kiên quyết yêu cầu các chủ đầu tư này phải khắc phục việc không tuân thủ, thực hiện không nghiêm túc quy định, nếu anh tiếp tục không thực hiện thì sẽ có chế tài nghiêm khắc. Nhưng nguyên nhân thứ hai là quỹ đất để cho các chủ đầu tư này có thể trồng rừng hoặc phối hợp với địa phương trồng rừng bù lại ở nhiều nơi không đủ quỹ đất. Chính vì vậy, vừa qua cùng với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, chúng tôi có kiến nghị với Chính phủ xem xét cho phép áp dụng cơ chế là ở những địa bàn có dự án triển khai nhưng không có quỹ đất để trồng rừng có thể tìm quỹ đất khác thay thế, cũng ở trên địa phương đó nhưng nằm ở địa bàn khác.

Thứ hai là nếu như quỹ đất trồng rừng tập trung không có thì có thể giao kinh phí trồng rừng bổ sung đó cho địa phương để người ta phân bổ trồng rừng phân tán, bù lại diện tích đất rừng đã bị mất. Tôi cho rằng cùng với những chính sách sắp tới và những chính sách hiện có, đặc biệt là thái độ kiên quyết của chúng ta đối với việc trồng bù các diện tích rừng bị mất thì thời gian tới sẽ khắc phục tình trạng này và trong báo cáo với Quốc hội tại kỳ họp thứ 6 về xung quanh vấn đề thủy điện và vấn đề trồng bù diện tích rừng bị mất chúng tôi sẽ báo cáo một cách cụ thể hơn.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng: Về vấn đề đó hai Bộ trưởng đều nhất trí một kiến nghị. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp cũng nói là phải trồng bù vào đất khác, nhà đầu tư đó phải nộp tiền và cùng với Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp quy hoạch đất rừng để trồng, Bộ trưởng Bộ Công Thương cũng nhất trí như vậy. Tôi đề nghị các đồng chí phối hợp và báo cáo với Chính phủ đề án này để tổ chức thực hiện, làm sao để đến kỳ họp thứ sáu các đồng chí báo cáo xem trồng bù được bao nhiêu, bây giờ là kỳ họp thứ năm, hoặc đến cuối năm nay đề án đã được duyệt chưa, bao giờ trồng, khả năng trồng được bao nhiêu, những nơi không trồng được còn tiếp tục làm thủy điện không? Hôm nay tôi đề nghị phải dứt điểm. Đại biểu Tô Văn Tám chắc cũng hài lòng với câu hỏi này.

Còn một ý nữa, Bộ trưởng Cao Đức Phát trả lời cho đại biểu Nguyễn Thị Khá, chỗ này có hai ý, một ý là nông dân và doanh nghiệp chia nhau lợi thế nào, bao nhiêu phần trăm thì khó quá, nếu Bộ trưởng trả lời được thì rất tốt, nếu chưa trả lời được thì xin đề nghị đồng chí tính và trả lời sau. Bù lãi suất tiền mua thóc, bây giờ nông dân được bao nhiêu, doanh nghiệp được bao nhiêu phần trăm? Đồng chí Khá hỏi thế trả lời rất khó.

Thứ hai, nói là nông nhàn nhưng bây giờ có tình trạng là "công nhàn" tức là doanh nghiệp khó khăn thì chạy về nông thôn, bây giờ Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp làm thế nào để đón nhận được lao động công nhàn này, chắc là gắn vào nông thôn mới rồi ta tính thêm. Câu hỏi này cũng khó lắm, đồng chí có trả lời được không?.

Bộ trưởng Cao Đức Phát: Tôi xin tiếp thu ý kiến của đại biểu Trương Văn Vở.

Về ý kiến của đại biểu Nguyễn Thị Khá, thứ nhất là nông dân trong tình hình giá cả hiện nay có thu nhập trên 30% hay không từ sản xuất lúa. Xin báo cáo với Quốc hội, theo thông báo của Bộ Tài chính, giá thành sản xuất lúa gạo bình quân của Đồng bằng sông Cửu Long vụ này là 4.142 đồng/1kg. Để cho nông dân có lãi 30% trở lên thì giá lúa tại ruộng ít nhất phải là 5.400 đồng nhưng tại thời điểm tuần này, theo báo cáo của Hiệp hội Lương thực thì giá tại ruộng tính thành giá lúa khô là lúa 50404 là 4.450 đồng, lúa hạt dài là 4.875 đồng, như vậy bà con chưa được lãi như mong đợi.

Chính vì thế nên Chính phủ cũng đang rất gấp rút thực hiện các biện pháp, tất nhiên thời gian này một số địa phương như Đồng Tháp dã thu hoạch nhiều rồi nhưng nhiều địa phương khác tháng 7, tháng 8 mới mưa nhiều và mới thu hoạch nhiều cho nên chúng tôi đang rất gấp rút. Tuy nhiên giải pháp căn cơ và quyết định nhất vẫn là xuất khẩu, nếu chúng ta xuất khẩu được số lượng lớn hơn, giá tốt hơn thì có thể mua được cho nông dân. Giá gạo 25% tấm tại mạn tàu là 6.995 đồng cũng khó lòng có thể mua lúa và gạo cho bà con nông dân với giá cao hơn. Các giải pháp khác chúng ta đang làm là giải pháp tình thế để cố gắng thực hiện được lời hứa với bà con.

Về phần trăm hưởng lợi trong trợ giá cho doanh nghiệp, báo cáo với Chủ tịch và Quốc hội, số chúng ta hỗ trợ cho doanh nghiệp là doanh nghiệp được hưởng, số đó khoảng hơn 200 tỷ đồng còn phần nông dân được hưởng là do biện pháp về thị trường của chúng ta làm cho giá lúa được nâng lên từ 100-150 đồng, cứ 1 triệu tấn được bán ra với giá được nâng ấy thì nông dân được lợi từ 100-150 tỷ đồng. Vụ Đông Xuân vừa rồi của chúng ta ở Đồng bằng sông Cửu Long thu hoạch 11 triệu tấn lúa, tất nhiên không phải 11 triệu tấn lúa đều được hưởng lợi từ tác động này nhưng chúng tôi cũng không thể tính được cụ thể nó là mấy triệu, nhưng nếu là 1 triệu tấn thì cũng đã được lợi khoảng 100-150 tỷ đồng.

Trong tình hình hiện nay nông nghiệp làm gì để tạo ra thêm việc làm cho nông dân và những người từ thành phố trở về. Trong lúc lúa đang dư thừa, heo đang dư thừa, trái cây đang dư thừa nếu làm ra nữa thì không bán được, tôi hiểu đại biểu hỏi như thế. Thưa Quốc hội là chúng ta vẫn có thể tiếp tục phát triển nông nghiệp trên nhiều hướng, vẫn có hướng cây trồng mà chúng ta đang phải nhập khẩu hơn 1 triệu tấn ngô, hàng triệu tấn đỗ tương, vẫn có những loại trái cây chúng ta bán được giá, tôm hiện nay lên giá 20.000/kg mà không có nguyên liệu cho các nhà máy của chúng ta chế biến v.v... Chúng tôi đang phối hợp với các địa phương để rà lại, để tập trung vào những cây con có thị trường và chúng ta còn có thể mở rộng ra được.

Thứ hai, như Chủ tịch Quốc hội gợi ý là lúc này chính là lúc chúng ta có thể xúc tiến mạnh hơn chương trình xây dựng nông thôn mới, đầu tư cơ sở hạ tầng và thông qua đó tạo việc làm và thu nhập cho bà con nông dân.

Đại biểu Nguyễn Thái Học (đoàn Phú Yên): Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2012, tình hình triển khai thực hiện kế hoạch năm 2013 trình Quốc hội tại kỳ họp này có nêu: "chính sách mua tạm trữ lúa gạo còn nhiều bất cập, gây bức xúc trong nông dân. Vì số lượng người được hưởng lợi trực tiếp còn ít, nhiều doanh nghiệp không có mạng lưới thu mua trực tiếp từ nông dân mà thông qua các thương lái nên tình trạng ép giá vẫn xảy ra phổ biến". Kính thưa Bộ trưởng, thực trạng này dẫn đến hệ quả thường thấy là cứ được mùa thì mất giá và người nông dân luôn là những người chịu nhiều thiệt thòi nhất. Đề nghị Bộ trưởng cho biết vì sao có thực trạng này, Bộ trưởng chỉ đạo để chấn chỉnh khắc phục tồn tại này ra sao?

Ở một khía cạnh khác xin Bộ trưởng cho biết với tình hình người nông dân trồng lúa hiện nay luôn bị lỗ và ngày càng nghèo đi. Như Bộ trưởng vừa đánh giá là khó có lãi thì mục tiêu mà Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo trong quá trình thu mua, tạm trữ lương thực phải đảm bảo cho người nông dân trồng lúa có lãi tối thiểu là 30% có thực hiện được không? Giải pháp thế nào? Vì cho đến nay đại bộ phận người trồng lúa trong cả nước chưa thụ hưởng được kết luận chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

Đại biểu Nguyễn Thị Kim Bé (đoàn Kiên Giang): Tôi xin cảm ơn Bộ trưởng đã có câu trả lời cho tôi, song một số nội dung tôi cho rằng vẫn chưa rõ ràng, tôi xin hỏi thêm Bộ trưởng 2 nội dung:

Tôi có chất vấn Bộ trưởng Bộ Công Thương về vấn đề xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam. Bộ trưởng Bộ Công Thương trả lời do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì thực hiện, còn Bộ trưởng trả lời cho tôi do doanh nghiệp thực hiện và Nhà nước hỗ trợ. Vậy Nhà nước là cơ quan nào để đại biểu tiện theo dõi. Trong thời gian chờ xây dựng thương hiệu gạo, để bảo vệ quyền lợi cho nông dân sản xuất lúa, Chính phủ có chủ trương thu mua tạm trữ với phương pháp hỗ trợ 100% lãi suất vốn vay cho doanh nghiệp để mua tạm trữ. Chủ trương thì đúng, nhưng nông dân chưa đồng tình với cách làm như người nông dân bán lúa, doanh nghiệp lại mua tạm trữ bằng gạo. Lúc nông dân có lúa thì chưa tạm trữ, nông dân bán hết rồi lại tạm trữ. Như vậy việc làm này có đúng với chủ trương hỗ trợ cho nông dân không? Bộ trưởng làm gì để nông dân được an tâm trong sản xuất? Việc tạm trữ lúa như thế nào để đảm bảo quyền lợi cho nông dân? Tôi không an tâm trước giải pháp dự kiến giao cho địa phương tạm trữ và Hiệp hội Lương thực thì điều khiển xuất khẩu, mối quan hệ giữa 2 đơn vị này chưa thể hiện rõ từ khâu tạm trữ cho đến khâu xuất khẩu.

Thứ hai, nước ta dự kiến đến 2020 là nước công nghiệp. Bộ trưởng sẽ làm gì để đạt kịp thời mục tiêu hiện đại hóa nông nghiệp, nhằm nâng cao chất lượng năng suất hiệu quả cho sản xuất nông nghiệp, để sản phẩm nông nghiệp đủ sức cạnh tranh trên thương trường thế giới?

Đại biểu Nguyễn Văn Rinh (đoàn Hải Dương): Tôi xin được hỏi Bộ trưởng 3 câu hỏi rất cụ thể:

Thứ nhất, xin Bộ trưởng cho biết hiện nay Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã cho nhập khẩu giống ngô, đậu tương, bông biến đổi gien vào nước ta chưa? Hoặc đã cho tổ chức, cá nhân trồng thực nghiệm ở địa phương nào chưa?

Câu hỏi thứ hai, tình trạng tiêm vắc xin, ăn bớt, quá hạn cho trẻ em xảy ra gần đây làm cho người dân rất nghi ngại và càng nghi ngại hơn đối với việc sử dụng vắc xin trong chăn nuôi thì Bộ trưởng đã có giải pháp gì để bảo đảm tính minh bạch, tin cậy để người dân yên tâm sử dụng?

Thứ ba, Bộ trưởng là cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo Chương trình xây dựng nông thôn mới của Chính phủ. Đề nghị Bộ trưởng cho biết sau khi điều chỉnh một số chỉ tiêu được hạ thấp tiêu chí xã nông thôn mới thì hiện nay cả nước đã có bao nhiêu xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới và đến năm 2015 chúng ta có 20% số xã đạt tiêu chuẩn này thì Bộ trưởng có kiến nghị gì với Quốc hội và Chính phủ không?

Đại biểu Phạm Xuân Thường (đoàn Thái Bình): Tôi xin chuyển đến Bộ trưởng 3 câu hỏi.

Câu hỏi thứ nhất: Thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, ở Đồng bằng Bắc Bộ đã xuất hiện nhiều cánh đồng mẫu lớn, lượng lúa gạo chất lượng cao, đủ tiêu chuẩn xuất khẩu được bà con nông dân sản xuất ngày càng nhiều, nhưng việc tiêu thụ thì rất khó khăn, phần do biến động của thị trường xuất khẩu gạo thế giới, phần do khâu bảo quản, chế biến sau thu hoạch ở các tỉnh Đồng bằng Bắc Bộ còn rất hạn chế, do chưa được Nhà nước quan tâm đầu tư. Nông dân và các doanh nghiệp xuất khẩu gạo miền Bắc đề nghị Chính phủ có kế hoạch đầu tư khâu bảo quản, chế biến lúa gạo sau thu hoạch cho khu vực phía Bắc và cho phép các doanh nghiệp được mua tạm trữ lúa gạo theo chương trình của Chính phủ. Quan điểm của Bộ trưởng về vấn đề này như thế nào? Chính phủ đã có chủ trương gì về việc này hay chưa?

Câu hỏi thứ hai: Trong sản xuất nông nghiệp khi có thiên tai, dịch bệnh xảy ra Nhà nước đều có chính sách hỗ trợ bà con nông dân bị thiệt hại, như hỗ trợ trong trồng trọt, chăn nuôi gia súc, gia cầm v.v... Duy chỉ có con ngao chưa được hỗ trợ, ở Thái Bình nhiều hộ nông dân vụ ngao vừa qua do nắng nóng kéo dài, thiệt hại hàng tỷ đồng, nhưng không được hỗ trợ do không có chính sách. Xin hỏi Bộ trưởng vì sao chính sách hỗ trợ của Nhà nước lại không đến được với bà con nuôi ngao?

Câu hỏi thứ ba: Theo quy định của dự thảo Luật Đất đai năm 1993 sửa đổi mà Quốc hội sắp thông qua thì thời hạn giao đất sản xuất nông nghiệp không chỉ là 20 năm mà kéo dài lên 50 năm và khi hết hạn sử dụng có thể được kéo dài thêm 50 năm nữa, nếu luật được thông qua thì đồng nghĩa với việc nhiều triệu nông dân sinh sau năm 1993 trong vòng 100 năm tới tiếp tục đi thuê đất của người khác để sản xuất, nhằm đảm bảo duy trì cuộc sống của mình và thực hiện các nghĩa vụ với Nhà nước và xã hội. Đây không phải là việc nhỏ, mà là vấn đề chính trị, kinh tế-xã hội rất lớn, tác động đến nhiều người dân và ổn định xã hội, nhưng dường như các nhà lập pháp, người quản lý chưa thực sự quan tâm đến vấn đề này và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng chưa có ý kiến gì về nội dung này. Nên trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) không có bất kỳ quy định nào đảm bảo chính sách đối với những người sinh sau tháng 10/1993 hiện không có đất sản xuất.

Là người gắn bó với nông nghiệp, nông dân, nông thôn xin Bộ trưởng cho biết đất đai thuộc sở hữu toàn dân, nguyên tắc giao đất nông nghiệp là cho người trực tiếp sản xuất. Việc người trực tiếp lao động nông nghiệp đang phải đi thuê đất của người đã chết, người không có nhu cầu sử dụng đất nông nghiệp có thực sự bất hợp lý hay không? nếu có Chính phủ cần phải có chính sách cụ thể như thế nào để giải quyết bất hợp lý này? Câu hỏi này tôi cũng xin chuyển tới Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Đại biểu Trương Minh Hoàng (đoàn Cà Mau): Tôi xin chất vấn Bộ trưởng 2 nội dung cụ thể về xuất xứ hàng hoá nông sản và hỗ trợ trực tiếp cho nông dân. Về vấn đề này Bộ trưởng cũng đã có trả lời một số ý kiến của đại biểu trước tôi nhưng có những nội dung tôi chưa thấy thoả đáng và tôi xin khai thác ở hai khía cạnh như sau:

Một, nhiều sản phẩm nông sản Việt Nam có thứ hạng trên thế giới như lúa, gạo, thuỷ sản, cà phê, hạt tiêu, hạt điều nhưng vẫn còn rất yếu kém về xây dựng thương hiệu gắn với xuất xứ hàng hoá nông sản. Xin hỏi Bộ trưởng cho biết định hướng và giải pháp vấn đề này để nâng cao năng lực cạnh tranh cho các nông sản hàng hoá chủ lực của Việt Nam góp phần nâng cao giá trị gia tăng để người nông dân có thể làm giàu được từ sản xuất nông nghiệp.

Hai, về chủ trương hỗ trợ, thu mua tạm trữ lúa gạo tôi đã có chất vấn bằng văn bản tại kỳ họp này và được Bộ trưởng trả lời tôi xin cảm ơn Bộ trưởng. Trong đó Bộ trưởng có nêu: "Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thông đã đề nghị Chính phủ chỉ đạo hệ thống ngân hàng tăng cho nông dân vay vốn để không phải bán lúa ngay sau khi thu hoạch". Xin hỏi Bộ trưởng sự phối hợp giữa Bộ và Ngân hàng Nhà nước trong thực hiện cho nông dân vay vốn tạm trữ như thế nào, kết quả ra sao, làm sao để sự hỗ trợ của Nhà nước đến trực tiếp với người nông dân trong quá trình sản xuất nông nghiệp?

Đại biểu Đoàn Nguyễn Thùy Trang (đoàn TPHCM): Tôi xin có 2 câu hỏi. Thứ nhất, trong sản xuất nông nghiệp hiện nay nhiều nông dân đã áp dụng phương pháp thực hành sản xuất tốt, gọi tắt là VIETGAP, quy trình này được thực hiện rất công phu, nông dân phải tốn nhiều công sức, hằng năm tốn chi phí rất nhiều để được kiểm định và chứng nhận đạt tiêu chuẩn. Tuy nhiên, trên thị trường hiện nay nông sản được bán ra chưa có sự phân biệt nào về nông sản đạt tiêu chuẩn là VIETGAP và nông sản bình thường. Như vậy, vấn đề này không khuyến khích được nông dân theo đuổi chương trình thực hành sản xuất tốt cũng như có nguy cơ chương trình này sẽ không được tiếp tục phát triển. Tôi xin đề nghị Bộ trưởng cho biết Bộ có những giải pháp gì để hỗ trợ cho người nông dân trong việc tiếp tục thực hành sản xuất tốt và tiêu thụ nông sản trên thị trường?

Thứ hai, trong khi có nhiều nông dân thực hành sản xuất tốt còn một bộ phận nông dân chưa đảm bảo được việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật theo đúng quy định, vẫn còn tình trạng một số nông dân phun thuốc bảo vệ thực vật ngay trước khi thu hoạch, không đảm bảo thời gian cách ly hoặc xử lý nông sản bằng hóa chất ngay sau khi thu hoạch để có những nông sản đẹp mắt bán ra thị trường. Vấn đề này sẽ dẫn đến tình trạng dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trên các loại rau quả đang bán trên thị trường hiện nay còn cao, ảnh hưởng tới sức khỏe người tiêu dùng. Bộ trưởng có giải pháp gì để giải quyết tình trạng trên, để người tiêu dùng có thể yên tâm sử dụng hàng rau quả sản xuất trong nước.

Vấn đề nữa về cơ giới hóa nông nghiệp, hiện nay đang diễn ra nhưng còn gặp nhiều khó khăn, do thiếu thiết bị sản xuất trong nước, trong khi đó thiết bị nhập khẩu như máy gặt đập liên hợp giá còn cao, nông dân chưa thể tự trang bị được. Một số nông dân đã tự nghiên cứu để sản xuất thiết bị, tuy nhiên họ chưa thể sản xuất đại trà do gặp nhiều khó khăn về vốn và kỹ thuật. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có những giải pháp gì để giúp đỡ người dân trang bị được máy móc để cơ giới hóa và giúp đỡ trong việc nghiên cứu, chế tạo máy móc cơ giới?

Đại biểu Nguyễn Thúy Hoàn (đoàn Thái Bình): Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia dễ bị tổn thương, chịu nhiều tác động tiêu cực do nước biển dâng, do biến đổi khí hậu gây ra. Cả nước với 3.260 km đường biển chạy dài đất nước suốt từ Bắc xuống Nam cùng với 50% dân số cả nước và đều là vùng đất thấp. Thái Bình chúng tôi cũng có trên 60km đường biển kèm theo đó là 71,3km đê biển và cửa sông sát biển nên chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều. Mùa hè nước dâng nhanh, hàm lượng phù sa cao, mùa đông lưu lượng phù sa không đáng kể, nước ngập mặn đã ngập sâu vào đất liền từ 15-20km. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, nếu nước biển dâng 1m thì có khoảng 10% dân bị ảnh hưởng và dâng 3m thì có 25% dân bị ảnh hưởng. Thực tế hộ ở các vùng ven biển đã ảnh hưởng nước biển dâng, nhất là sau cơn bão số 8 tháng 10/2012 làm thiệt hại hàng ngàn tỷ đồng và phá hủy nhiều đoạn đê biển. Vậy giải pháp của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ngăn nước mặn, giữ nước ngọt để thích ứng và đối phó với nước biển dâng như thế nào.

Câu hỏi thứ hai, các hộ dân sống trong các vùng đê bối có được hưởng chính sách hỗ trợ của Nhà nước như đối với các hộ dân ở các vùng được phân chậm lũ hay không.

Câu hỏi thứ ba, bao giờ thì Bộ hoàn thiện xây dựng định mức cũng như hướng dẫn quy hoạch cơ sở hạ tầng cho hành lang thoát lũ ở các tuyến sông cửa biển để các địa phương được thực hiện.

Câu hỏi thứ tư, Thái Bình hiện còn 28 km đê trực diện với biển đang phải hoàn thành trước mùa mưa lũ năm nay, Chính phủ cũng đã hỗ trợ 130 tỷ đồng, tuy nhiên để hoàn thành được 28 km đê biển thì cần phải có 830 tỷ, vậy kính mong Bộ trưởng quan tâm hỗ trợ cho tỉnh nông nghiệp Thái Bình chúng tôi.

Đại biểu Y Thông (đoàn Phú Yên): Tôi xin hỏi Bộ trưởng một ý sau. Hiện nay sản xuất nông nghiệp của nước ta gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là người sản xuất ra sản phẩm nông nghiệp bán sản phẩm thì với giá thấp không đủ bù đắp chi phí cho sản xuất nông nghiệp, nhất là sản phẩm lúa gạo và sản phẩm chăn nuôi. Nhưng đối với người tiêu dùng mua các sản phẩm này thì lại không dễ chút nào, thậm chí rất đắt và rất cao. Với tư cách là cơ quan quản lý Nhà nước về lĩnh vực này Bộ trưởng có thấy nhóm lợi ích nào thao túng ở lĩnh vực này hay không và Bộ trưởng có giải pháp nào để tháo gỡ nhằm giúp cho người nông dân đỡ khó khăn trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp này?

Bộ trưởng Cao Đức Phát: Tôi xin được giải trình theo nhóm vấn đề như sau.

Thứ nhất, các đại biểu Nguyễn Thái Học, đoàn Phú Yên; Nguyễn Thị Kim Bé, Đoàn Kiên Giang; Trương Minh Hoàng, đoàn Cà Mau; Đoàn Nguyễn Thùy Trang, đoàn TPHCM, chất vấn về các giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản, thúc đẩy tiêu thụ, hiện đại hóa nông nghiệp.

Nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản, đây là mục tiêu quan trọng của quá trình hiện đại hóa nông nghiệp. Những giải pháp quan trọng để đạt được mục tiêu này, trước hết chúng ta cần tiếp tục điều chỉnh cơ cấu sản xuất để tập trung vào những mặt hàng là thế mạnh của nước Việt Nam. Đồng thời phải tiếp sức nông dân bằng việc tăng cường nghiên cứu và chuyển giao khoa học kỹ thuật, nhất là về giống, xây dựng cơ sở hạ tầng và dịch vụ đồng bộ, khuyến khích phát triển, bảo quản chế biến bằng công nghệ hiện đại đem lại giá trị gia tăng cao. Tổ chức lại sản xuất để hình thành các chuỗi kết nối người sản xuất với thị trường trong và ngoài nước.

Để hỗ trợ mạnh mẽ hơn cho quá trình cơ giới hóa và giảm tổn thất sau thu hoạch trong nông nghiệp, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 65/2011 sửa đổi, bổ sung những chính sách có liên quan. Vừa qua Thủ tướng Chính phủ cũng đã chỉ đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng với các bộ liên quan tiếp tục nghiên cứu để điều chỉnh chính sách có hiệu quả hơn.

Đối với việc xây dựng thương hiệu trong câu hỏi của đại biểu Nguyễn Thị Kim Bé, tỉnh Kiên Giang. Theo hiểu biết của chúng tôi thường rất hiếm trường hợp mà một nước đứng ra để xây dựng thương hiệu, gọi là thương hiệu quốc gia mà thường là hậu thuẫn cho các doanh nghiệp để xây dựng thương hiệu. Xây dựng thương hiệu thực chất là duy trì chất lượng cao, ổn định của những mặt hàng mà doanh nghiệp đưa ra. Bộ NNPTNT cũng ý thức được vấn đề này vì thế đang nỗ lực chỉ đạo các viện nghiên cứu chọn tạo đưa ra những giống có năng suất chất lượng cao ổn định, phối hợp với các địa phương hướng dẫn tổ chức nông dân sản xuất hàng loạt để doanh nghiệp có thể có nguồn nguyên liệu với chất lượng cao ổn định để xây dựng thương hiệu.

Về việc nông dân chưa sử dụng đúng thuốc bảo vệ thực vật cần được khắc phục chủ yếu bằng việc tuyên truyền vận động, hướng dẫn đối với người dân, đồng thời chúng tôi cũng chủ trương sẽ phối hợp với các địa phương xúc tiến việc xây dựng các tổ chức dịch vụ bảo vệ thực vật, xây dựng các chuỗi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm có sự giám sát chặt chẽ của các cơ quan chuyên môn phát triển hệ thống xác nhận truy xuất nguồn gốc trong nông nghiệp.

Về vấn đề tăng cường cho nông dân vay vốn, Thủ tướng Chính phủ đã thường xuyên chỉ đạo và hệ thống ngân hàng cũng đã thực hiện nhất quán chủ trương ưu tiên cung cấp tín dụng cho nông dân. Trong những năm vừa qua như năm 2012 và những tháng đầu năm 2013 thì tín dụng cho nông dân nông nghiệp, nông thôn liên tục tăng với tốc độ cao hơn so với tốc độ tăng bình quân của nền kinh tế và hệ thống ngân hàng cũng đã chỉ đạo có những gói tín dụng ưu đãi để hỗ trợ tiêu thụ lúa gạo, cá tra, tôm và các sản phẩm chăn nuôi. Thống đốc Nguyễn Văn Bình có thể có những thông tin cụ thể hơn để báo cáo với Quốc hội.

Các đại biểu Phạm Xuân Thường và Nguyễn Thúy Hoàn, đoàn Thái Bình, chất vấn về các giải pháp đối phó với biến đổi khí hậu, hỗ trợ nông dân thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh gây ra.

Kính thưa Quốc hội, biến đổi khí hậu là vấn đề lớn của quốc gia chúng ta. Vừa qua Hội nghị lần thứ 7 của Ban chấp hành Trung ương Đảng đã xem xét và có nghị quyết chỉ đạo các biện pháp ứng phó. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ chỉ đạo quyết liệt để triển khai thực hiện nghị quyết này của Đảng. Bộ đã và đang rà soát quy hoạch thủy lợi các vùng và cả nước trong điều kiện biến đổi khí hậu. Trên cơ sở đó lựa chọn nhiệm vụ ưu tiên và phối hợp triển khai thực hiện. Trong đó có việc củng cố hệ thống đê biển và có đê biển của Thái Bình. Bộ cũng đã thẩm định các phương án quy hoạch phòng chống lũ, quy hoạch đê điều của các dòng sông trên địa bàn tỉnh Thái Bình để Hội đồng Nhân dân tỉnh phê duyệt.

Riêng về hỗ trợ phát triển mô hình cánh đồng mẫu lớn Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã trình Thủ tướng Chính phủ các chính sách khuyến khích doanh nghiệp tham gia tiêu thụ nông sản do nông dân làm ra từ những mô hình cánh đồng này. Đây chính là điểm mấu chốt đang khó khăn đối với việc thực hiện mô hình cánh đồng mẫu lớn. Về hỗ trợ ngư dân nuôi ngao khi bị thiệt hại do thiên tai gây ra, đề nghị áp dụng theo Quyết định số 49 của Thủ tướng Chính phủ năm 2012. Về chính sách cho vùng ngoài đê, đề nghị áp dụng theo Luật Đê điều tại Nghị định 04 năm 2011, Chính phủ đã bãi bỏ các vùng phân chậm lũ. Về chính sách đất đai đại biểu Phạm Xuân Thường nêu, chúng ta có trao đổi với Bộ trưởng Nguyễn Minh Quang, xin phép Quốc hội để Bộ trưởng có báo cáo giải trình quan điểm chung của chúng tôi.

Đại biểu Nguyễn Văn Rinh, đoàn Hải Dương, chất vấn về giải pháp thúc đẩy thực hiện các mục tiêu về xây dựng nông thôn mới, sử dụng các cây trồng biến đổi gien và vắc xin trong nông nghiệp. Xây dựng nông thôn mới là chủ trương đúng đắn, hợp lòng dân của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên đây cũng là nhiệm vụ khó khăn, lâu dài. Nhưng thực tiễn hơn 3 năm thực hiện ở các xã điểm do Ban Bí thư trực tiếp chỉ đạo cũng như ở rất nhiều địa phương cho thấy chủ trương này có thể thực hiện được một cách có hiệu quả nếu chúng ta có nhận thức đúng, quyết tâm cao và cách làm đúng. Trong nước có nhiều mô hình và cách làm thành công. Nhiệm vụ tới năm 2015 có 20% xã đạt cả 19 tiêu chí về xây dựng nông thôn mới, tức là có 1.815 xã. Tuy nhiên, không chỉ một số xã này mà tất cả các xã khác cũng sẽ phải có số tiêu chí đạt ở mức cao hơn. Với nỗ lực to lớn của cả Trung ương, địa phương, Nhà nước và nhân dân, đến hết năm 2012 đã có gần 200 xã đạt 19 tiêu chí, bình quân toàn quốc đã đạt 6,41 tiêu chí, tăng 1,13 tiêu chí so với năm 2011. Những biện pháp cần tập trung để thúc đẩy thực hiện chương trình này, đó là:

Thứ nhất, tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân. Thứ hai, hoàn thành quy hoạch, lập đề án xây dựng nông thôn mới. Thứ ba là lồng ghép các nguồn lực để hỗ trợ hộ nông dân, thôn, xóm và các xã thực hiện các nội dung ưu tiên như phát triển sản xuất, thực hiện các tiêu chí không phải là về cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, có xây dựng những cơ sở hạ tầng ưu tiên.

Ở tỉnh Nam Định có một phương châm rất hay, đó là làm từ ngoài đồng trước, trong làng sau, hộ trước, thôn trước và xã sau. Tuy nhiên, Nhà nước cũng cần tiếp tục tăng cường hỗ trợ trực tiếp cho chương trình.

Về việc áp dụng các cây trồng biến đổi gien, hiện nay Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã chỉ đạo khảo nghiệm một số giống ngô của các Công ty Syngenta, Dekalb và đang làm thủ tục công nhận kết quả khảo nghiệm để làm cơ sở Bộ Tài nguyên và Môi trường xem xét, cấp giấy chứng nhận an toàn sinh học. Hiện nay ở nước ta chưa trồng các giống cây biến đổi gien, mặc dù trên thế giới đã có 28 nước trồng khoảng 170 triệu ha.

Về việc sử dụng vắc xin trong chăn nuôi, chúng tôi thường xuyên chỉ đạo các cơ quan chuyên môn và các địa phương kiểm tra, giám sát để làm đúng quy định và xử lý nghiêm các vi phạm khi phát hiện được. Chúng tôi chưa phát hiện được việc ăn bớt vắc xin, có lẽ vì giá trị một liều vắc xin trong chăn nuôi thấp, đắt nhất là vắc xin tai xanh chỉ có giá 33.000 đồng/liều, còn vắc xin cúm gia cầm có mấy trăm đồng một liều. Tuy nhiên, chúng tôi cũng đang chỉ đạo thanh tra trước thông tin có một số nơi cán bộ không tiêm nhưng khai là tiêm rồi rút vắc xin bán ra bên ngoài.

Đại biểu ở Phú Yên chất vấn có hay không nhóm lợi ích làm tổn hại đến lợi ích của nông dân? Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kiên quyết phản đối mọi hình thức nhóm lợi ích hoạt động trái pháp luật hoặc lợi dụng kẽ hở của pháp luật làm tổn hại đến lợi ích của nông dân. Trước mọi thông tin về lợi ích nhóm tôi đều chỉ đạo phối hợp kiểm tra và có biện pháp ngăn ngừa. Tuy nhiên, cho tới nay chưa có cơ sở để xác định những nhóm như vậy trong lĩnh vực nông nghiệp.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng: Có một câu hỏi của đại biểu Phạm Xuân Thường, đoàn Thái Bình, liên quan đến vấn đề giao đất và thời hạn giao đất, rất lo lắng là con em mình sinh ra sau này lúc Luật Đất đai có hiệu lực thì lấy đất đâu mà tăng gia sản xuất và sinh sống nếu như không có việc chia lại đất. Câu chuyện này xin mời Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Minh Quang trả lời câu hỏi.

Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Minh Quang: Tôi xin được trả lời câu hỏi chất vấn của đại biểu Phạm Xuân Thường như sau.

Câu hỏi của đại biểu Phạm Xuân Thường liên quan đến vấn đề sử dụng đất nông nghiệp, tất nhiên nội dung này liên quan đến vấn đề Luật Đất đai (sửa đổi) mà tới đây Quốc hội sẽ thảo luận. Câu hỏi về vấn đề thời hạn sử dụng đất nông nghiệp quy định trong dự thảo Luật Đất đai năm 2003 (sửa đổi) liên quan đến chủ trương không đặt vấn đề điều chỉnh lại đất nông nghiệp giao cho hộ gia đình và cá nhân.

Để trả lời câu hỏi này cần xuất phát từ Nghị quyết 19 của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 6 Khóa XI về tiếp tục đổi mới chính sách pháp luật về đất đai, theo đó Trung ương tiếp tục khẳng định là không đặt vấn đề điều chỉnh lại đất nông nghiệp đã giao cho hộ gia đình và cá nhân. Thực hiện chủ trương này trong thời gian vừa qua Bộ Tài nguyên và Môi trường chúng tôi đã tham mưu cho Chính phủ xây dựng dự thảo Luật Đất đai 2003 (sửa đổi) theo hướng tăng thời hạn sử dụng đất nông nghiệp, trồng cây nông nghiệp ngắn ngày, theo luật cũ là 20 năm và nay đề nghị lên 50 năm.

Theo thời hạn này thì người sử dụng đất được tiếp tục sử dụng 50 năm nữa như hôm qua đại biểu Thường có nêu, thời gian kéo dài này do nhu cầu sử dụng đất và luôn thực hiện tốt các quy định của pháp luật về đất đai do không điều chỉnh lại đất nông nghiệp đã chia cho hộ gia đình, cá nhân nên cần tăng thời hạn sử dụng đất nông nghiệp lên 50 năm vì đảm bảo cho người được giao đất yên tâm ổn định sản xuất, tránh các thủ tục không cần thiết khi hết thời hạn quy định thời hạn 20 năm. Đồng thời quy định 50 năm vẫn đảm bảo quyền thuộc sở hữu của Nhà nước.

Về ý thứ ba, trả lời câu hỏi nếu không điều chỉnh lại đất nông nghiệp theo chủ trương nói trên thì có biện pháp gì để người sinh ra sau năm 1993 có đất để sản xuất nông nghiệp? Tức là năm 1993 Luật quy định mốc thời hạn sử dụng đất 20 năm.

Chúng tôi cho rằng trước hết theo quy định của Luật 2003 và dự kiến sẽ sửa đổi đối với trường hợp người sử dụng đất nông nghiệp đã chết, người không có nhu cầu sử dụng đất nông nghiệp thì sẽ thực hiện chuyển quyền sử dụng đất hoặc thực hiện thừa kế, tặng, cho đối với người sinh sau theo quy định của pháp luật.

Ý thứ hai, thời gian qua ở một số địa phương đã có biện pháp điều chỉnh đất nông nghiệp trong nội bộ tại địa bàn dân cư như thông qua sự đồng thuận của địa bàn dân cư thì tiến hành điều chỉnh đất nông nghiệp khi thực hiện chủ trương về dồn điền, đổi thửa. Chúng ta thấy về một số các tỉnh như tỉnh Hà Tĩnh, một số tỉnh khác và ngay tỉnh Thái Bình thường có điều chỉnh như vậy, tức là điều chỉnh trong nội bộ địa bàn dân cư với sự đồng thuận của địa bàn dân cư thì chúng ta sẽ tiến hành công việc đó, chúng tôi cho nhân dân làm là tốt.

Hoặc thu hồi đất nông nghiệp với trường hợp trả lại đất do không có nhu cầu sử dụng và vận động hộ gia đình đang chuyển đổi nghề, chuyển nhượng, cho thuê đất nông nghiệp cho lao động nông nghiệp chưa có đất hoặc có nhu cầu sử dụng đất nhiều hơn.

Một ý nữa, chúng ta nhìn về lâu dài, tức là sau năm 2020 khi đất nước trở thành nước công nghiệp thì lao động nông nghiệp sẽ chuyển dịch sang lao động công nghiệp và các hoạt động dịch vụ khác, lúc đó lao động nông nghiệp chỉ chiếm khoảng dưới 35%. Còn lao động trong nông nghiệp lúc đấy sẽ được giảm tỷ lệ sẽ giảm rất nhỏ. Do đó áp lực về đất nông nghiệp cho lao động sẽ giảm xuống nên vấn đề tạo quỹ đất cho lao động mới hình thành sẽ không trở thành vấn đề bức bách như hiện nay. Chúng tôi muốn nêu ra một chút, tức là sau năm 2020 cơ cấu lao động nông nghiệp sẽ giảm.

Báo cáo các vị đại biểu và đại biểu Thường, từ những lý do nêu trên chúng tôi cho rằng Trung ương khẳng định chủ trương không điều chỉnh đất nông nghiệp như kết luận của Trung ương chúng tôi cho phù hợp với thực tiễn hiện nay và tính cả lâu dài. Tôi xin hết ý kiến.

Đại biểu Nguyễn Thái Học (đoàn Phú Yên): Phần trả lời của Bộ trưởng cho thấy Bộ trưởng rất quan tâm lo toan đến đời sống của người nông dân. Tuy nhiên bản thân tôi và cử tri cũng chưa thật vừa lòng, chưa thật yên tâm, vấn đề mấu chốt đặt ra ở đây là cứ đến mùa thu hoạch, người dân được mùa nhưng các thương lái thu mua ép giá, người dân chịu thiệt, quanh năm làm vất vả, nhưng đến mùa thu hoạch thì không được lãi, trong khi thương lái là những người mua lại của người nông dân nhưng lại được lãi. Vấn đề đặt ra ở đây là có thực trạng này không và giải pháp khắc phục thế nào? Bộ trưởng chưa trả lời.

Vấn đề thứ hai, đi theo hệ quả này người nông dân rất vui mừng phấn khởi trước chủ trương của Thủ tướng là làm sao trong quá trình thu mua lương thực đảm bảo người nông dân có lãi tối thiểu là 30%, cử tri rất vui, rất phấn khởi. Nhưng trước tình hình thu hoạch bán không có lãi như thế thì bây giờ làm sao? Giải pháp nào để người nông dân có lãi tối thiểu là 30%?

Đại biểu Nguyễn Thị Kim Bé (đoàn Kiên Giang): Chuyện xây dựng thương hiệu kiên trì là tất nhiên, xong Bộ trưởng cũng đã nói là chất lượng gạo của Việt Nam được đánh giá rất cao. Như vậy tại sao hạt gạo của Việt Nam lại mất giá, theo các chuyên gia về lúa gạo đánh giá sức mua của thế giới năm nay vẫn gia tăng.

Thứ hai, đối với chính sách tạm trữ lúa gạo ta nói là hỗ trợ cho người nông dân, những người nông dân được lợi gì, trong khi đó người nông dân chỉ có bán lúa, chỉ có lúa thôi, mà lại là mua gạo, như vậy cuối cùng chính sách này là ai có lợi? Bộ trưởng làm rõ giải pháp tới đây trong việc đảm bảo quyền lợi cho nhân dân trong giải pháp tạm trữ ta cho giải pháp tất yếu trong giai đoạn hiện nay.

Bộ trưởng Cao Đức Phát: Chúng tôi hết sức chia sẻ và cũng rất trăn trở trước tình hình hiện nay khi nông dân rất vất vả làm ra nông sản và bán thì giá đang ở mức thấp và Bộ cũng đang cùng các bộ, ngành thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, tìm mọi giải pháp để khắc phục tình hình trước mắt cũng như suy nghĩ, đề xuất những giải pháp căn cơ lâu dài.

Trước tình hình được mùa thì mất giá, người nông dân được lãi ít, những thành phần khác được lợi nhiều hơn, đây là vấn đề lớn chúng tôi cũng đã suy nghĩ rất nhiều. Trước hết chúng tôi hướng dẫn bà con nông dân tập trung vào sản xuất những cây trồng, vật nuôi có thị trường. Chúng ta làm với năng suất cao, giá thành hạ hơn, hay nói cách khác là tốt hơn và rẻ hơn so với những đối thủ cạnh tranh. Chỉ khi làm đúng theo yêu cầu của thị trường, có thị trường thì làm ra mới không bị ế còn khi chúng ta làm quá mức yêu cầu thị trường và khả năng tiêu thụ thì chắc chắn giá sẽ thấp.

Mặt khác, trong cùng hoàn cảnh đó làm sao để người nông dân không bị ép giá, cách tốt nhất mà chúng tôi đã theo đuổi đó là tạo ra môi trường cạnh tranh, không để cho một tổ chức hoặc một nhóm các đơn vị có thể có ưu thế trên thị trường từ đó ép giá nông dân và khống chế giá trên thị trường. Chúng tôi cũng theo đuổi chủ trương khuyến khích nông dân và hỗ trợ nông dân hình thành các hợp tác xã, các tổ liên kết, thông qua đó hình thành chuỗi sản xuất, trên cơ sở đó tạo ra những vị thế mạnh hơn cho nông dân trên thị trường như lúa gạo ở nước ta có tới 9,5 triệu hộ gia đình nông dân canh tác lúa, mỗi một nông dân với khối lượng nông sản rất nhỏ như thế thì rất khó có thể chủ động tác động vào giá khi đàm phán với những thương lái.

Đại biểu Nguyễn Thị Kim Bé, tỉnh Kiên Giang, có nêu làm sao cho nông dân được lợi hơn nói chung và trong chính sách lúa gạo nói riêng. Chúng tôi thấy biện pháp tạm trữ là giải pháp tình thế, là một trong những giải pháp để tác động vào thị trường, không phải biện pháp căn cơ và giải quyết mọi vấn đề của ngành lúa gạo. Đây là biện pháp trước mắt trong tình huống hiện nay. Những năm thị trường tốt chúng ta không cần đến chương trình tạm trữ nhưng chúng tôi thấy rằng cũng đã đến lúc ngành lúa gạo của chúng ta cần phải có sự chuyển biến căn bản.

Chúng tôi thấy mặc dù chúng ta có chủ trương giữ 3,8 triệu ha đất lúa nhưng cơ cấu cây trồng trên diện tích đó phải được điều chỉnh phù hợp với yêu cầu của thị trường. Không nhất thiết trên đất lúa là phải trồng lúa mà có thể trồng những cây trồng khác có thị trường và đem lại thu nhập cao hơn cho nông dân. Còn những diện tích trồng lúa cần phải được quy hoạch và hướng dẫn hỗ trợ nông dân sản xuất bằng những giống với chất lượng cao hơn với những quy trình tiến độ đảm bảo nông dân có năng suất cao hơn và giá thành thấp hơn.

Mặt khác, phải tiếp tục để hỗ trợ phát triển về công nghệ bảo quản, cũng như công nghệ chế biến, tăng cường năng lực thị trường, đặc biệt là năng lực xâm nhập và phát triển thị trường xuất khẩu để có thể bán vào thị trường thế giới với giá cao và ổn định hơn. Trên cơ sở đó tiêu thụ lúa cho nông dân với giá cao hơn và chỉ có khi đó người nông dân mới được hưởng lợi ích cao hơn từ ngành lúa gạo, xứng đáng với công sức mình bỏ ra.

Đại biểu Nguyễn Đức Hiền (Trưởng Ban Dân nguyện của Quốc hội): Tôi xin được chất vấn Bộ trưởng 2 vấn đề:

Thứ nhất, thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 4 cuối năm 2012 giao cho Chính phủ năm 2013 ban hành chính sách đặc thù để giải quyết về khó khăn, để sản xuất đời sống cho người dân tái định cư các công trình thủy điện, trong đó có công trình thủy điện Hòa Bình và Sơn La, Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng đã có bức thư, công thư gửi cho Bộ trưởng và trong đó có đoạn viết rằng, ngày 23/12/2012 Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã đi thăm, làm việc tại Sơn La và dự lễ khánh thành công trình thủy điện Sơn La và trong buổi lễ Thủ tướng đã giao cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì chính và phối hợp với Bộ Công Thương, các bộ, ngành để xây dựng các chính sách đặc thù về vấn đề nêu trên và Bộ trưởng Bộ Công Thương cũng đề nghị Bộ trưởng chỉ đạo các cơ quan chức năng của Bộ phối hợp chặt chẽ với Tổng cục Năng lượng của Bộ Công Thương để soạn thảo về vấn đề này. Vậy đến nay đã hơn 6 tháng thực hiện nghị quyết của Quốc hội và nhiệm vụ Chính phủ thì 2 bộ là Bộ NNPTNT và Bộ Công Thương đã có những động thái thế nào để tăng cường phối hợp soạn thảo chính sách này?

Vấn đề thứ hai, qua khảo sát về tình hình sản xuất và đời sống của người dân tái định cư, một vấn đề rất quan trọng đặt lên đó là rất thiếu đất sản xuất cho đồng bào để làm kế sinh nhai lâu dài. Đây là một vấn đề rất quan trọng và cử tri nhiều nơi đề nghị Nhà nước của chúng ta có thể thu hồi một phần đất của nông trường hoang hóa, lãng phí và sử dụng không có hiệu quả, cũng như là một phần đất của vùng đệm của các rừng phòng hộ, để hỗ trợ cho người dân sản xuất. Với tư cách là cơ quan quản lý Nhà nước, là tư lệnh lĩnh vực thì Bộ trưởng cho biết quan điểm và ý kiến của Bộ trưởng về vấn đề này như thế nào?

Đại biểu Trần Văn Minh (đoàn Quảng Ninh): Vừa rồi Bộ trưởng cũng đã thông tin khái quát tình hình và các giải pháp thực hiện trong thời gian tới để đạt được mục tiêu xây dựng nông thôn mới đã đặt ra trong Quyết định số 800 của Thủ tướng Chính phủ. Đây là một vấn đề tôi quan tâm và cũng xin cảm ơn Bộ trưởng đã có thông tin trả lời này.

Vấn đề thứ hai, cũng trong chương trình xây dựng nông thôn mới thì người ta có ý kiến cho rằng các ngành, địa phương đang quá tập trung vào việc thực hiện các chỉ tiêu xây dựng cơ sở hạ tầng, chưa chú trọng đúng mức đến việc giúp người dân thay đổi phương thức tập quán sản xuất và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, trong khi đây mới thực sự là vấn đề bản chất giúp người dân xóa đói, giảm nghèo, tham gia xây dựng nông thôn mới thành công, Bộ trưởng đánh giá thế nào về nhận xét này? Với cương vị là thường trực chương trình, Bộ trưởng thấy tới đây cần chỉ đạo và có những giải pháp gì để xây dựng nông thôn mới thành công, có hiệu quả và đặc biệt tiết kiệm được nguồn lực trong tình hình khó khăn hiện nay?

Đại biểu Nguyễn Thị Huệ (đoàn Đăk Lăk): Tôi có 2 câu hỏi xin gửi đến Bộ trưởng như sau:

Thứ nhất, hiện nay nông nghiệp là ngành kinh tế hết sức quan trọng của chúng ta. Lĩnh vực nông nghiệp có tác động rất lớn đến cuộc sống của người dân. Vừa qua Chính phủ đã có những chính sách nhằm mục đích hỗ trợ nông dân. Ví dụ như Quyết định 63 của Thủ tướng ký từ năm 2010 về chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, thủy sản.

Chính sách này nếu được thực thi sẽ tạo điều kiện cho những nông dân và doanh nghiệp đang khát vốn sản xuất thực sự có điều kiện được vay vốn để phát triển đổi mới công nghệ sau thu hoạch. Để đảm bảo nâng chất lượng sản phẩm, để lúa của nông dân trồng ra không bị lên mầm khi chưa có người thu mua như hiện nay.

Được biết Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã phê duyệt một số danh sách máy móc, thiết bị sản xuất trong nước có đủ điều kiện để thực hiện theo Quyết định này. Thế nhưng theo phản ánh của các cử tri ở hầu hết các địa phương thì hiện nay nông dân chưa ai tiếp cận được nguồn vốn này. Nguyên nhân là do các ngân hàng không triển khai cho vay hỗ trợ lãi suất vì nhiều lý do.

Xin phép hỏi Bộ trưởng với vai trò là người đứng đầu ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, trong thời gian tới Bộ trưởng sẽ có sự phối hợp như thế nào với ngành ngân hàng để chủ trương đúng đắn này thực sự có hiệu quả như Chính phủ đã mong muốn?

Thứ hai, ngành Cà phê Việt Nam hiện nay là ngành dẫn đầu cả nước về cây công nghiệp, có kim ngạch 3,74 tỷ đô la, trên cả lúa gạo, là cây có lượng Robusta chiếm 70% lượng xuất khẩu trên toàn cầu, nhưng cây cà phê này đã được Bộ Nông nghiệp quan tâm như thế nào?

Theo tôi được biết thì cây cà phê cho đến lúc này chúng ta chưa có một viện riêng, có những công trình khoa học xứng tầm để nghiên cứu giúp nông dân phát triển một cách bền vững, có định hướng cho loại cây công nghiệp giá trị này. Xin được lưu ý rằng các nước trồng cà phê như ở Brazil, Indonesia, Columbia, họ đã có những viện cà phê để chuyên tâm đi sâu vào lĩnh vực này và có những công trình khoa học giá trị cao để hỗ trợ những điều nông dân còn thiếu.

Tình hình hiện nay, cây cà phê đang già cỗi đi và cần tái canh rất nhiều. Nhưng nông dân vẫn còn lúng túng, bên cạnh những rừng cà phê già cỗi chưa có hướng tái canh hiệu quả, người dân vẫn tiếp tục phá rừng để trồng mới.

Xin Bộ trưởng cho biết, Bộ Nông nghiệp đã có những quyết sách gì để bảo đảm duy trì và phát triển con số xuất khẩu hiện nay là gần 4 tỷ đô la và phương hướng cụ thể để giúp cho nông dân những định hướng mang tính khoa học trong thời gian tới?

Đại biểu Hà Sỹ Đồng (đoàn Quảng Trị): Một, thực hiện đề án tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước, trong đó có các nông, lâm trường quốc doanh, sau hơn 5 năm thực hiện chuyển đổi theo Nghị định 200 của Chính phủ đến nay phát triển sản xuất kinh doanh còn chậm, chưa huy động được nguồn lực để phát huy hiệu quả tiềm năng đất rừng, việc giải quyết đất rừng giữa các tổ chức này với các địa phương chưa dứt điểm, còn tồn tại và kéo dài. Xin Bộ trưởng cho biết nguyên nhân tồn tại và giải pháp thúc đẩy huy động nguồn lực đầu tư cho các doanh nghiệp phát triển trong thời gian tới.

Hai, việc rà soát quy hoạch sử dụng 3 loại rừng còn nhiều bất cập, chưa phù hợp với phát triển kinh tế-xã hội, đặc biệt tỷ lệ rừng phòng hộ chiếm tỷ lệ cao, tiêu tốn nhiều ngân sách Nhà nước cho công tác đầu tư, bảo vệ và phát triển rừng, đất rừng sản xuất, rừng nghèo chưa được rà soát, quy hoạch chuyển đổi ưu tiên cho sản xuất kết hợp phòng hộ, giải quyết việc làm cho người lao động nghề rừng và phát triển kinh tế-xã hội. Xin Bộ trưởng cho biết giải pháp thời gian tới để tiết kiệm tài nguyên, ổn định môi trường, thúc đẩy phát triển ngành lâm nghiệp.

Đại biểu Mai Thị Ánh Tuyết (đoàn An Giang): Tôi xin hỏi về vấn đề tạm trữ lúa gạo, vấn đề tạm trữ là giải pháp tình thế để hỗ trợ thị trường và không để giá xuống thấp ảnh hưởng đến hiệu quả của người nông dân, triển khai hệ thống tạm trữ vừa qua đã phát sinh nhiều bất cập và làm ảnh hưởng đến thu nhập của người dân cũng như vấn đề rối ren, bức xúc trong vấn đề này làm cho cử tri cả nước nhất là nông dân rất bức xúc. Ngày 04 tháng 06 năm 2013 Thủ tướng Chính phủ vừa mới ký quyết định chỉ tiêu tạm trữ thóc, gạo vụ hè thu năm 2013 với chỉ tiêu là 1 triệu tấn thóc, gạo trong thời điểm thị trường đầu ra không sáng sủa, áp lực thị trường đang tồn kho rất lớn, trong vụ Đông Xuân vừa qua doanh nghiệp không xuất khẩu được, do giá thấp thì đợt tạm trữ vụ Hè Thu lại đến và dự báo sẽ phát sinh nhiều khó khăn và thách thức. Do đó, xin đề nghị Bộ trưởng một số câu hỏi như sau.

Thứ nhất là thời điểm thu hoạch rộ các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long có một số tỉnh như An Giang, Kiên Giang là thu hoạch rộ vào thời điểm khoảng 31/7 đến 15/8, nhưng thời điểm tạm trữ là 15/6 đến 31/7 như Thủ tướng Chính phủ vừa ký, như thế một số tỉnh khi thu hoạch rộ thì các chỉ tiêu của doanh nghiệp đã được ký thì doanh nghiệp sẽ mua ở các tỉnh khác. Do đó, các tỉnh như An Giang, Kiên Giang và một số tỉnh thu hoạch rộ sau đó không nhận được chỉ tiêu mà Chính phủ đã thực hiện và phân bổ cho các tỉnh. Như vậy, thực hiện tạm trữ vừa qua, chúng ta có đạt được mục tiêu là làm thế nào để cho vấn đề tiêu thụ được lúa trong dân không tồn đọng hay không?

Thứ hai là tạm trữ vụ Đông Xuân thì định giá không xuống thấp hơn 5.000 đồng/1 kg, trong khi vụ Hè Thu Chính phủ lại quy định tạm trữ theo cơ chế thị trường, như vậy doanh nghiệp sẽ tự quyết định giá mua và trong điều kiện hiện nay xuất khẩu không được do đó có thể phát sinh ra hiện tượng đè giá nông dân. Vậy tạm trữ có đạt được mục tiêu là hỗ trợ thị trường và không đè giá thấp ảnh hưởng đến đời sống người dân hay không?

Vấn đề tạm trữ hiện nay là một giải pháp tình thế, trong điều kiện vụ Đông Xuân vừa qua tồn kho lớn và vụ Hè Thu tiếp tục 1 triệu tấn, trong bối cảnh hiện nay gạo tồn kho Ấn Độ và Thái Lan cũng rất lớn và có khả năng tháo kho bất kỳ lúc nào. Do đó sự cạnh tranh quyết liệt của thị trường rất gay gắt, như vậy sự xuất khẩu là một vấn đề rất bức xúc hiện nay để giải quyết vấn đề tồn kho vụ Đông Xuân cũng như tồn kho của vụ Hè Thu sắp tới. Bộ trưởng phối hợp với Bộ Công thương sẽ giải quyết như thế nào để giúp người nông dân kết thúc thời gian tạm trữ là có thể xuất khẩu được với giá cả phù hợp, giúp cho doanh nghiệp có lợi cũng như người nông dân có lợi? Nếu thị trường không xuất được thì Chính phủ sẽ có giải pháp như thế nào?

Một câu hỏi nữa, trong điều kiện hiện nay đầu ra cũng đang khó khăn, một số doanh nghiệp đầu tư kho, nhà máy sấy, bóc vỏ đạt tiêu chuẩn theo Nghị định 109 với nguồn vốn đầu tư từ 300-400 tỷ đồng và có những hợp đồng lớn. Với chức năng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ phối hợp với bộ, ngành liên quan như thế nào để cấp phép cho các doanh nghiệp đủ điều kiện xuất, đã gửi ở Bộ Công Thương từ tháng 8/2012 đến nay chưa cấp phép, làm ảnh hưởng đến năng lực xuất khẩu của Việt Nam và hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp?

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng: Có 1 câu hỏi liên quan tới Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, đó là vấn đề cho vay để hỗ trợ sản xuất cơ khí nông nghiệp, máy nông nghiệp, đại biểu cho rằng đến nay nhà sản xuất chưa tiếp cận nguồn vốn này theo chủ trương của Chính phủ. Nhân đây cũng đề nghị Thống đốc báo cáo thêm hỗ trợ tín dụng cho nông nghiệp, cho nông dân mà từ hôm qua tới giờ rất nhiều đại biểu Quốc hội hỏi, hỗ trợ từ nguồn tín dụng, kể cả tín dụng chính sách cho nông nghiệp, cho nông dân chúng ta như thế nào?

Bộ trưởng Cao Đức Phát: Đại biểu Nguyễn Đức Hiền, đoàn Nghệ An, có chất vấn đề ban hành chính sách đặc thù về di dân tái định cư có liên quan đến xây dựng các công trình thủy điện, thủy lợi. Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ trong 6 tháng vừa qua Bộ NNPTNT đã phối hợp với Bộ Công Thương tổng điều tra lại việc tình hình thực hiện các chính sách đã ban hành đối với công việc này, chúng tôi đã có báo cáo gửi các Ủy ban của Quốc hội để báo cáo với Quốc hội. Trên cơ sở điều tra đó, chúng tôi đánh giá những mặt được và những mặt chưa được của cơ chế chính sách hiện hành và đang soạn thảo đề xuất về chính sách mới. Chúng tôi sẽ cố gắng hoàn thành từ giờ đến cuối năm.

Về vấn đề thiếu đất và thu hồi đất của các nông, lâm trường cũng như câu hỏi của đại biểu Hà Sỹ Đồng có liên quan đến lâm trường quốc doanh. Thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị, Bộ NNPTNT cũng đang cùng với các bộ, ngành có liên quan tổng rà soát lại về tình hình sử dụng đất đai và rừng ở các nông, lâm trường và kết quả thực hiện Nghị quyết 28 của Bộ Chính trị cách đây 10 năm về sắp xếp đổi mới các nông, lâm trường quốc doanh, trên cơ sở tổng kết đó chúng tôi có báo cáo với Ban cán sự Đảng Chính phủ để báo cáo Bộ Chính trị những chủ trương, giải pháp cho thời gian tới. Tới nay công việc này đã hoàn tất và báo cáo cũng đã được hoàn chỉnh, đã báo lên Ban cán sự Đảng của Chính phủ để báo cáo Bộ Chính trị, trong đó có việc đề xuất thu hồi những phần diện tích mà các nông, lâm trường sử dụng kém hiệu quả để giao về địa phương để giao cho nhân dân sử dụng hiệu quả hơn.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng: Nội dung này đến cuối năm nay đồng chí có thể báo cáo Quốc hội được không?

Bộ trưởng Cao Đức Phát: Chúng tôi đã tổng kết thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị nên chúng tôi báo cáo Bộ Chính trị, còn có báo cáo Quốc hội thì xin sự chỉ đạo của Quốc hội chúng tôi sẽ báo cáo.

Về xây dựng nông thôn mới, đại biểu Trần Văn Minh, ở Quảng Ninh, hỏi là có quá chú trọng vào xây dựng cơ sở hạ tầng, ít quan tâm đến hỗ trợ sản xuất, giải pháp như thế nào? Báo cáo Quốc hội, hiện nay đúng là có tình trạng đó. Nhiều địa phương khi triển khai thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới đã quan tâm nhiều đến việc thực hiện các chỉ tiêu về xây dựng cơ sở hạ tầng, ít quan tâm đến nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất có hiệu quả hơn để có thu nhập cao hơn. Chúng tôi đã có ý kiến với các địa phương, giải pháp cho tình trạng này chúng tôi đã đề nghị các địa phương phải khẩn trương thực hiện việc xây dựng quy hoạch về sản xuất của từng xã một, với tinh thần mỗi xã rà soát để lựa chọn ra 1 đến 3 sản phẩm chủ lực là lợi thế của địa phương mình.

Chúng tôi đã nói rõ thế nào là lợi thế đó là nuôi trồng ở địa phương mình năng suất cao hơn và giá rẻ hơn so với địa phương khác, sản phẩm phải biết rõ thị trường thì mới hướng dẫn nông dân sản xuất, có tiến bộ kỹ thuật để giúp cho nông dân sản xuất hiệu quả cao, tập trung nỗ lực vào làm thật tốt những sản phẩm được lựa chọn. Tỉnh Quảng Ninh có chương trình mỗi xã một sản phẩm, chúng tôi rất ủng hộ chủ trương đó. Khi đã lựa chọn rồi thì cách làm là tập hợp cán bộ khoa học kỹ thuật hỗ trợ nông dân xây dựng mô hình, vận dụng chương trình đào tạo nghề cho nông dân để hướng dẫn và đào tạo nông dân, hỗ trợ về vật tư cũng như tín dụng để nông dân có thể áp dụng kỹ thuật mới trên diện rộng.

Đại biểu Nguyễn Thị Huệ, tỉnh Đăk Lăk, có hỏi về vấn đề cho các doanh nghiệp và nông dân vay vốn để sản xuất và mua sắm trang thiết bị cơ giới hóa nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch có lẽ xin phép để Thống đốc Nguyễn Văn Bình có thể có thông tin. Về cà phê, đây là sản phẩm có lợi thế của đất nước chúng ta vì thế ngành nông nghiệp thường xuyên quan tâm đối với việc nâng cao hiệu quả của ngành sản xuất này. Chúng tôi đã thành lập Viện Nghiên cứu khoa học nông lâm nghiệp Tây Nguyên tại Đăk Lăk và xác định nghiên cứu về cây cà phê là nhiệm vụ trọng tâm của viện. Viện cũng đã nhiều năm nghiên cứu chọn tạo các giống cây cà phê và hiện nay có thể nói những giống cà phê do Viện đưa ra thuộc loại tốt, có năng suất cao so với thế giới.

Gần đây trước tình hình có 30% diện tích cà phê của nước ta đã đến tuổi phải thanh lý và trồng thay thế nhưng nhiều nơi bà con trồng thay thế không thành công. Chúng tôi đã chỉ đạo Viện nghiên cứu và làm thí nghiệm những mô hình tái canh và đã có những mô hình thành công. Chúng tôi đang chỉ đạo Viện tổ chức, phổ biến cho các địa phương và chúng tôi hoan nghênh Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo các ngân hàng có gói tín dụng đặc biệt để hỗ trợ cho nông dân tái canh cà phê.

Mặt khác, chúng tôi cũng thường xuyên theo dõi thị trường để có biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp. Trong một số trường hợp cần thiết đã đề xuất với Chính phủ các chương trình hỗ trợ tín dụng để thu mua hoặc tạm trữ cà phê. Đặc biệt hiện nay chúng ta chủ yếu mới xuất khẩu cà phê nhân thô. Mặc dù giá trị thu được như đại biểu nói gần 4 tỷ đô la Mỹ nhưng vẫn còn chưa tương xứng với khả năng của chúng ta. Nếu được chế biến thì giá trị của cà phê còn có thể tăng gấp nhiều lần, chúng ta cũng đã nghiên cứu và đề xuất những chính sách khuyến khích việc đầu tư phát triển chế biến sâu, phát huy lợi thế lớn của ngành nông nghiệp nước ta.

Đại biểu Hà Sỹ Đồng chất vấn về nông lâm trường và vấn đề rà soát 3 loại rừng. Báo cáo với Quốc hội cách đây 5 năm, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, chúng ta đã cùng các địa phương tổng rà soát lại quy hoạch 3 loại rừng và đã có sự điều chỉnh lớn. Trước đây do nguồn ngân sách hạn chế nên nhiều địa phương đã quy hoạch một diện tích lớn lên đến hơn 9.000.000 ha đất để làm rừng đặc dụng và phòng hộ, như vậy quá nhiều và không còn đất để cho các mục tiêu sản xuất.

Vừa qua với kết quả tổng rà soát của các địa phương, diện tích rừng đặc dụng và phòng hộ đã giảm xuống còn 7,8 triệu ha. Như vậy đã dôi ra hơn 1.000.000 ha để chuyển sang sản xuất. Tuy nhiên việc rà soát tổng quát ở trên địa bàn từng tỉnh đã được thực hiện nhưng cần chi tiết hóa tới từng khu vực đất rừng. Việc này các địa phương đang làm, chúng tôi cũng rất mong các địa phương sẽ khẩn trương thực hiện và cắm mốc ở trên thực địa để nhân dân biết rõ chỗ nào là rừng sản xuất, chỗ nào rừng phòng hộ để giao đất, giao rừng để nhân dân và các doanh nghiệp đầu tư làm ăn.

Đại biểu Mai Thị Ánh Tuyết có nêu về những bất cập trong tạm trữ, nhất là An Giang sẽ thu hoạch rộ từ 31 tháng 7, tức là sau việc mua tạm trữ thì sẽ như thế nào? Không có giá định hướng liệu nông dân có bị ép giá không? Và việc công nhận các doanh nghiệp xuất khẩu. Về vấn đề này trong phiên chất vấn lần này tôi đã giải trình nhiều với Quốc hội, chương trình tạm trữ không thể nào bám theo lịch thời vụ của từng địa phương ở Đồng bằng sông Cửu Long mà chúng ta chọn thời điểm có hiệu quả nhất để tập trung mua, để tạo ra một lực cầu mạnh ở trên thị trường, không để cho giá bán lúa của nông dân bị rớt xuống tự do, rớt sâu, để hỗ trợ về thị trường. Còn sau ngày 31/7, tùy theo diễn biến của thị trường chúng tôi sẽ cùng với các bộ tiếp tục nghiên cứu để có những đề xuất, các giải pháp phù hợp.

Còn bây giờ giá chúng ta nêu ra trên cơ sở giá thành bình quân của bà con nông dân, nhưng chúng ta phải làm theo quy luật thị trường, chúng ta không thể nói với thị trường tôi làm với giá thành bằng này, nên tôi phải bán với giá cao hơn giá thành 30% mà giá do quy luật cung cầu và chương trình hỗ trợ thị trường của Chính phủ cũng thực hiện theo quy luật thị trường, tức là tác động vào cung cầu. Ở trong trường hợp này khi lượng lúa thu hoạch của nông dân tăng lên, tức là nguồn cung tăng lên thì chúng ta một mặt thúc đẩy xuất khẩu, nhưng một mặt khác nữa thì có chương trình tạm trữ để tăng lượng cầu để cân bằng cung cầu ở mức có lợi về giữ giá cho nông dân. Còn giá định hướng là để định hướng chứ cũng không thể yêu cầu các doanh nghiệp mua ngay giá 5.400 đồng/kg lúa, trong khi giá thị trường hiện nay dưới 5.000 đồng/kg mà chúng ta tác động không để giá rơi xuống tự do và cố gắng để đẩy nó lên theo mức mong đợi. Còn các diễn biến khác nữa thì chúng ta sẽ tiếp tục dùng mọi biện pháp để hỗ trợ.

Còn hiện nay, đúng như đại biểu nêu, nếu chúng ta nói với doanh nghiệp là phải mua 5.400 đồng/kg, nhưng khi xuất khẩu không được giá đó, họ sẽ bị lỗ nặng và họ sẽ không thể mua. Vì thế, về vấn đề này, chúng tôi cùng với Hiệp hội trước mắt chỉ đạo các doanh nghiệp đã có hợp đồng thì cố gắng tăng mua lúa của nông dân, trong trường hợp có những khó khăn thì chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu để đề xuất với Chính phủ hỗ trợ cho doanh nghiệp, nhưng vào lúc nào đã phân bổ chỉ tiêu và đang chỉ đạo các doanh nghiệp cố gắng để mua lúa.

Về vấn đề công nhận thêm doanh nghiệp, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải trong phiên họp ngày 8/6 bàn về các biện pháp thúc đẩy tiêu thụ lúa, thủy sản và sản phẩm chăn nuôi thì đã có chỉ đạo Bộ Công Thương rà soát để công nhận những doanh nghiệp đủ điều kiện theo Nghị định 109 để tham gia vào việc xuất khẩu gạo.

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình: Tiếp theo ý kiến của Bộ trưởng Bộ NNPTNT Cao Đức Phát, tôi xin phép được trình bày một số nội dung có liên quan đến hoạt động tín dụng phục vụ cho phát triển nông nghiệp và nông thôn cũng như một số ý kiến của các đại biểu Quốc hội nêu lên về một số cơ chế, chính sách tín dụng đối với nông nghiệp và nông thôn.

Trong thời gian vừa qua, đặc biệt là trong 5 năm gần đây, tức là trong giai đoạn mà đất nước chúng ta gặp rất nhiều khó khăn, thực hiện chủ trương của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, hệ thống ngành ngân hàng đã ưu tiên nguồn vốn cho phát triển nông nghiệp và nông thôn. Nhờ đó, mặc dù vậy trong tình hình hết sức khó khăn, nông nghiệp và nông thôn đã có bước phát triển hết sức ổn định và vững chắc trong thời gian vừa qua. Thực tiễn đã chứng tỏ, đây là chỗ dựa cho cả nền kinh tế của đất nước chúng ta trong giai đoạn khó khăn vừa qua.

Báo cáo với Quốc hội, chỉ tính riêng từ năm 2008 đến nay, hằng năm tăng trưởng tín dụng cho lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn tăng trung bình khoảng 20%/năm. Chỉ riêng 5 năm vừa qua, đặc biệt là từ năm 2010, khi Chính phủ ban hành cơ chế chính sách tín dụng cho lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn thì tín dụng cho nông nghiệp và nông thôn đã tăng lên nhanh chóng.

Trong 5 năm vừa qua, tín dụng nông nghiệp và nông thôn đã tăng gấp 2 lần. Ví dụ, dư nợ tín dụng cho nông nghiệp và nông thôn đến ngày 31/12/2012 đã đạt 561.533 tỷ đồng. Trong suốt giai đoạn vừa qua, đặc biệt là trong những năm gần đây, mặc dù tín dụng cho nền kinh tế để tăng trưởng không được cao, nhưng tín dụng cho nông nghiệp và nông thôn thì vẫn tăng trưởng rất cao.

Ví dụ riêng trong 4 tháng đầu năm nay, tín dụng của cả nền kinh tế chỉ tăng trưởng cỡ khoảng hơn 2%, trong khi đó tín dụng cho nông nghiệp và nông thôn tăng sấp xỉ 5%.

Còn một số gói tín dụng hiện nay mà hệ thống ngân hàng đang áp dụng cho những lĩnh vực ưu tiên đối với nông nghiệp và nông thôn, tôi xin báo cáo với Quốc hội:

Thứ nhất, về doanh số cho vay đối với lĩnh vực lúa gạo, về tình hình cho vay tạm trữ thóc, gạo vụ Đông Xuân 2012, 2013 theo Quyết định 311 của Thủ tướng Chính phủ, đến nay dư nợ cho vay theo quyết định này đã đạt 7.612 tỷ đồng, tương đương thu mua tạm trữ 951.630 tấn gạo và đạt 95% kế hoạch.

Hiện nay, theo tinh thần Quyết định số 850 ngày 4/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước cũng đã có Văn bản số 4142 ngày 12/6/2013 để chỉ đạo các tổ chức tín dụng tiếp tục đợt thu mua tạm trữ lúa gạo tiếp theo, như Bộ trưởng Cao Đức Phát đã trình bày.

Trong lĩnh vực thủy sản và chăn nuôi, thực hiện Văn bản số 1149 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách đối với chăn nuôi, chế biến thịt lợn, gia cầm và cá tra, tôi xin báo cáo Quốc hội một số kết quả như sau:

Trong thời gian từ ngày 15/8/2012 đến 30/4/2013 doanh số cho vay theo tinh thần Công văn số 1149 của 5 ngân hàng thương mại Nhà nước đã đạt 63.193 tỷ đồng, trong đó với kết quả cho vay cá tra theo công văn này doanh số cho vay trong thời gian trên là 27.955 tỷ đồng, dư nợ đến 30/4/2013 là 17.549 tỷ đồng. Nếu tính về tỷ số tăng là tăng 7,8% so với ngày 15/8/2012. Về cho vay để nuôi trồng tôm, tại 5 ngân hàng thương mại theo tinh thần của Công văn 1149 thì trong 4 tháng đầu năm 2013 đạt 8.644 tỷ đồng, dư nợ đến 30/4/2013 còn 14.856 tỷ đồng. Cho vay chăn nuôi, chế biến thịt lợn và gia cầm theo tinh thần của công văn nói trên thì trong giai đoạn trên đạt 21.579 tỷ đồng, đến 30/4/2013 dư nợ còn 17.705 tỷ đồng.

Về chương trình, tôi xin nói về gói để thực hiện theo Quyết định số 63, 65 của Thủ tướng Chính phủ về cho vay hỗ trợ, giảm tổn thất sau thu hoạch. Doanh số cho vay trong lĩnh vực này đạt rất thấp. Tôi báo cáo một số số liệu như sau.

Đến ngày 30/4/2013 dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất của 4 ngân hàng thương mại đạt 699 tỷ đồng, mặc dù có tăng 15% so với cuối năm ngoái, nhưng vẫn là con số rất thấp. Qua tìm hiểu và đi công tác thực địa tại các địa phương thì khó khăn lớn nhất của bà con nông dân chính là: Theo các quyết định nói trên thì đối với các máy móc thiết bị có thể nằm trong chương trình tín dụng ưu đãi này phải có tỷ lệ nội địa hóa trên 60%. Trong khi đó máy móc thiết bị bà con nông dân có nhu cầu mua không đạt được tỷ lệ nội địa hóa 60%, vấn đề này sau khi đã đi tìm hiểu, chúng tôi cũng đã có công văn gửi các bộ có liên quan để báo cáo Chính phủ kịp thời xử lý.

Về cho vay đối với lĩnh vực cà phê, như Bộ trưởng Cao Đức Phát đã nói, thời gian vừa qua chúng tôi phối hợp rất chặt chẽ với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để có những chương trình tín dụng, đặc biệt là chương trình tín dụng ở tái canh cây cà phê, hiện nay chúng tôi đang triển khai rất quyết liệt với tổng số của gói này khoảng 12 nghìn tỷ đồng với một mức lãi suất hết sức hợp lý, bà con nông dân có thể chấp nhận được với thời gian vay trung và dài hạn. Tôi tin chắc rằng với sự phối hợp rất chặt chẽ của hai bộ, cũng như là của chính quyền địa phương các cấp, gói tín dụng này sẽ phát huy được hiệu quả trong thời gian sắp tới.

Trên đây là một số số liệu để chứng minh cho việc chúng ta đã dồn một số lượng tín dụng rất lớn cho phát triển nông nghiệp và nông thôn và trên thực tế cũng đã đạt được một số kết quả. Tôi chỉ xin nhấn mạnh thêm một số điều trên cơ sở ý kiến của các đại biểu Quốc hội. Chúng tôi cũng đã đi thực địa rất nhiều địa phương, thấy một điều là năng lực sản xuất ở lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn của chúng ta còn hết sức lớn.

Tuy nhiên, để cho hiệu quả của hoạt động sản xuất này còn đòi hỏi rất nhiều khâu. Ví dụ qua cây cà phê vừa rồi chúng ta thấy rằng ngay từ những vấn đề cơ bản như giống, kỹ thuật, tiền vốn và thu hoạch v.v... là những vấn đề đặt ra. Nếu chúng ta có một chương trình liên thông như vậy thì mới đảm bảo hiệu quả, mới đảm bảo đồng vốn ngân hàng có thể thu hồi được, cũng tương tự như vậy trong những lĩnh vực khác như lĩnh vực cá tra chẳng hạn, nuôi trồng như thế nào, chế biến như thế nào và bảo quản tích trữ như thế nào, xuất khẩu như thế nào, đòi hỏi phải có một quy hoạch hết sức là tổng thể, chúng tôi cũng đã phối hợp rất chặt chẽ với Bộ NNPTNT để làm sao trên cơ sở các chương trình cụ thể như vậy thì đưa đầy đủ nguồn vốn vào để đáp ứng đầy đủ nguốn vốn cho hoạt động phát triển nông nghiệp và nông thôn.

Trong thời gian sắp tới, giữa 3 bộ: Bộ NNPTNT, Bộ Công Thương và Ngân hàng Nhà nước sẽ có sự phối hợp chặt chẽ hơn nữa để làm sao cho các chính sách về hỗ trợ nông nghiệp và nông thôn, chính sách đối với đồng bào, đối với nông dân phát huy được hiệu quả tốt hơn nữa trong thời gian sắp tới.

(Nguồn: Biên bản ghi âm phiên chất vấn chiều 12/6, sáng 13/6 của Văn phòng Quốc hội)