(Chinhphu.vn) - Ông Hoàng Đức Thanh (Huế) là viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập, ông đang hưởng lương chuyên viên bậc 1/9, hệ số 2,34 cộng phụ cấp ưu đãi theo nghề mức 30%. Ông Thanh hỏi, căn cứ để tính trả tiền lương làm thêm giờ của ông được xác định như thế nào?

Luật sư Trần Văn Toàn, Văn phòng luật sư Khánh Hưng - Đoàn luật sư Hà Nội trả lời vấn đề này như sau:

Theo Mục II Thông tư liên tịch số 08/2005/TTLT-BNV-BTC ngày 5/1/2005 của Bộ Nội vụ - Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện chế độ trả lương làm việc vào ban đêm, làm thêm giờ đối với cán bộ, công chức, viên chức thì, về nguyên tắc, tiền lương làm thêm giờ được tính theo số giờ thực tế làm thêm ngoài giờ tiêu chuẩn.

Căn cứ tính trả tiền lương

Tiền lương giờ dùng làm căn cứ để tính trả tiền lương làm thêm giờ được xác định bằng tiền lương của một tháng chia cho số giờ làm việc tiêu chuẩn trong một tháng.

Trong đó:

- Tiền lương của một tháng, bao gồm: Mức lương hiện hưởng, các khoản phụ cấp lương và hệ số chênh lệch bảo lưu (nếu có). Cơ quan, đơn vị được áp dụng hệ số điều chỉnh tăng thêm so với mức lương tối thiểu chung (nay gọi là mức lương cơ sở) thì tiền lương của một tháng cũng được điều chỉnh tăng thêm tương ứng.

- Số giờ làm việc tiêu chuẩn trong một tháng được xác định bằng số giờ làm việc tiêu chuẩn trong một ngày nhân với số ngày làm việc tiêu chuẩn trong một tháng.

Số giờ làm việc tiêu chuẩn trong một ngày là 8 giờ. Số ngày làm việc tiêu chuẩn trong một tháng là 22 ngày.

Các chế độ phụ cấp

Điều 6 Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang quy định về các chế độ phụ cấp lương như sau:

- Phụ cấp thâm niên vượt khung.

- Phụ cấp kiêm nhiệm chức danh lãnh đạo.

- Phụ cấp khu vực.

- Phụ cấp đặc biệt.

- Phụ cấp thu hút.

- Phụ cấp lưu động.

- Phụ cấp độc hại, nguy hiểm.

Các chế độ phụ cấp đặc thù theo nghề hoặc công việc gồm:

- Phụ cấp thâm niên nghề;

- Phụ cấp ưu đãi theo nghề;

- Phụ cấp trách nhiệm theo nghề;

- Phụ cấp trách nhiệm công việc;

- Phụ cấp phục vụ quốc phòng, an ninh.

Thông tư liên tịch số 08/2005/TTLT/BNV-BTC hướng dẫn chế độ trả lương làm thêm giờ đối với cán bộ, công chức, viên chức đang hưởng lương theo Nghị định 204/2004/NĐ-CP.

Do đó, các khoản phụ cấp lương được quy định tại Điều 6 Nghị định số 204/2004/NĐ-CP, trong đó có phụ cấp ưu đãi theo nghề quy định tại Điểm b, Khoản 8 Điều này được tính để làm căn cứ tính tiền lương làm thêm giờ theo Thông tư liên tịch số 08/2005/TTLT/BNV-BTC.

Trường hợp ông Hoàng Đức Thanh đang hưởng lương chuyên viên bậc 1/9, hệ số 2,34 cộng phụ cấp ưu đãi theo nghề mức 30%, thì căn cứ để tính trả tiền lương làm thêm giờ được xác định bằng tiền lương của một tháng (bao gồm mức lương hiện hưởng cộng phụ cấp ưu đãi theo nghề của một tháng) chia cho số giờ làm việc tiêu chuẩn trong một tháng. Cụ thể:

(2,34 x mức lương cơ sở + 30% x 2,34 x mức lương cơ sở)/(8 giờ x 22 ngày).

Luật sư Trần Văn Toàn

VPLS Khánh Hưng, Đoàn luật sư Hà Nội

* Thông tin chuyên mục có giá trị tham khảo với người đọc, không dùng làm tài liệu trong tố tụng pháp luật.