(Chinhphu.vn) - Khi xác định hạng chứng chỉ hành nghề quản lý dự án theo Khoản 13, Điều 1 Nghị định 100/2018/NĐ-CP, chức danh Trưởng dự án quản lý, điều phối thực hiện dự án được xác định tương đương với chức danh Giám đốc quản lý dự án theo Khoản 1, Điều 1 Nghị định 100/2018/NĐ-CP.

Theo phản ánh của ông Trần Văn Trọng (TPHCM), Khoản 1, Điều 1 Nghị định 100/2018/NĐ-CP ngày 16/7/2018 của Chính phủ quy định: “Giám đốc quản lý dự án là chức danh của cá nhân được Giám đốc Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành, Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng khu vực, người đại diện theo pháp luật của tổ chức tư vấn quản lý dự án, người đại diện theo pháp luật của chủ đầu tư (trường hợp chủ đầu tư tự thực hiện quản lý dự án) giao nhiệm vụ quản lý, điều phối thực hiện quản lý dự án đối với dự án đầu tư xây dựng công trình cụ thể”.

Đối với cơ quan của ông Trọng, khi thực hiện một dự án, Giám đốc Ban quản lý dự án có quyết định giao nhiệm vụ cho chức danh Trưởng dự án quản lý, điều phối thực hiện quản lý dự án chứ không có chức danh Giám đốc dự án.

Ông Trọng hỏi, khi xác định hạng chứng chỉ hành nghề quản lý dự án theo hướng dẫn tại Khoản 13, Điều 1 Nghị định 100/2018/NĐ-CP, năng lực của Trưởng dự án do cơ quan ông giao nhiệm vụ như trên có được xác định là tương đương với năng lực của chức danh Giám đốc quản lý dự án theo Khoản 1, Điều 1 Nghị định 100/2018/NĐ-CP hay không?

Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau:

Khi xác định hạng chứng chỉ hành nghề quản lý dự án theo quy định tại Khoản 13, Điều 1 Nghị định 100/2018/NĐ-CP ngày 16/7/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc các lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Xây dựng thì chức danh Trưởng dự án quản lý, điều phối thực hiện dự án được xác định tương đương với chức danh Giám đốc quản lý dự án theo Khoản 1, Điều 1 Nghị định 100/2018/NĐ-CP.

Chinhphu.vn

Từ khóa: Quản lý dự án , chứng chỉ hành nghề