(Chinhphu.vn) - Chồng bà Phạm Thị Đào (anhdaodc@...) làm việc tại Công ty sữa được 8 năm, đóng BHXH được 40 tháng, khi nghỉ việc không đăng ký bảo hiểm thất nghiệp. Sau đó làm việc tại công ty khác được 3 tháng, có đóng BHXH và bảo hiểm thất nghiệp.

Ảnh minh họa

Chồng của bà Đào có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp là 43 tháng nhưng không liên tục. Bà Đào hỏi, chồng bà có được hưởng bảo hiểm thất nghiệp không?

Về vấn đề này, ông Nguyễn Đại Đồng, Cục trưởng Cục Việc làm – Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội trả lời như sau:

Theo quy định tại Điều 15 Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 quy định chi tiết một số điều của Luật BHXH về bảo hiểm thất nghiệp đã được sửa đổi, bổ sung thì người thất nghiệp là người đang đóng bảo hiểm thất nghiệp mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc được hưởng bảo hiểm thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau:

- Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật;

- Đã đăng ký thất nghiệp với cơ quan lao động khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc;

- Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày đăng ký thất nghiệp với cơ quan lao động.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Thông tư số 32/2010/TT-BLĐTBXH ngày 25/10/2010 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 127/2008/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung thì người đang đóng bảo hiểm thất nghiệp là người có tháng liền kề trước khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đã đóng bảo hiểm thất nghiệp, tháng liền kề bao gồm cả thời gian sau:

- Người lao động có các tháng liền kề trước khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc nghỉ việc hưởng chế độ thai sản hoặc ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên không hưởng tiền lương, tiền công tại đơn vị mà hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội;

- Người lao động có các tháng liền kề trước khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đã giao kết theo quy định của pháp luật không hưởng tiền lương, tiền công tháng tại đơn vị.

Như vậy, nếu người lao động là người đang đóng bảo hiểm thất nghiệp và đáp ứng đủ điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Điều 15 Nghị định số 127/2008/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung nêu trên thì được hưởng bảo hiểm thất nghiệp.

Cổng TTĐT Chính phủ trân trọng cảm ơn Cục Việc làm (Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội) đã có thông tin trả lời công dân qua Cổng TTĐT Chính phủ.

Phòng Thông tin phản ánh của tổ chức và công dân

Tin liên quan:

- Điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp

- Quy định mới về bảo hiểm thất nghiệp

- Trường hợp không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp

- Trường hợp tiếp tục được hưởng trợ cấp thất nghiệp

- Đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ 12 tháng được hưởng trợ cấp

- Quyền lợi của người lao động khi mất việc làm

Từ khóa: 127/2008/NĐ-CP , Luật Bảo hiểm xã hội