(Chinhphu.vn) - Một công nhân làm việc tại một công ty được 10 tháng, cuối năm muốn nghỉ phép, nhưng công ty không giải quyết với lý do là sau khi ký hợp đồng một năm mới được nghỉ phép. Điều này đúng hay sai?

Ảnh minh họa

Ông Nguyễn Quý Đảng (quydang89@...) ký hợp đồng thử việc 3 tháng với 1 công ty từ ngày 23/2/2013. Đến ngày 23/5/2013 ông Đảng được ký hợp đồng lao động chính thức, có thời hạn 1 năm. Cuối năm, ông Đảng muốn nghỉ phép nhưng được Công ty giải thích với lý do là sau khi ký hợp đồng một năm mới được nghỉ phép. Ông Đảng hỏi, công ty trả lời ông như vậy có đúng quy định không?

Luật sư Trần Văn Toàn, Văn phòng luật sư Khánh Hưng - Đoàn luật sư Hà Nội trả lời câu hỏi của ông Đảng như sau:

Tại khoản 1, Điều 111 và khoản 2, Điều 114 Bộ Luật Lao động năm 2012 quy định: Người lao động có đủ 12 tháng làm việc cho một người sử dụng lao động thì được nghỉ hằng năm (còn gọi là nghỉ phép năm), hưởng nguyên lương theo hợp đồng lao động như sau:

- 12 ngày làm việc đối với người làm công việc trong điều kiện bình thường.

- 14 ngày làm việc đối với người làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc người làm việc ở những nơi có có điều kiện sinh sống khắc nghiệt theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành hoặc lao động chưa thành niên hoặc lao động là người khuyết tật.

- 16 ngày làm việc đối với người làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc người làm việc ở những nơi có điều kiện sinh sống đặc biệt khắc nghiệt theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành.

Người lao động có dưới 12 tháng làm việc thì thời gian nghỉ hằng năm được tính theo tỷ lệ tương ứng với số thời gian làm việc. Trường hợp không nghỉ thì được thanh toán bằng tiền.

Thời gian được coi là thời gian làm việc của người lao động để tính số ngày nghỉ hằng năm, cách tính số ngày nghỉ hằng năm đối với trường hợp làm không đủ năm được quy định cụ thể tại Điều 6, Điều 7 Nghị định số 45/2013/NĐ-CP như sau:

Thời gian được tính số ngày nghỉ hằng năm

- Thời gian học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động theo cam kết trong hợp đồng học nghề, tập nghề.

- Thời gian thử việc theo hợp đồng lao động sau đó làm việc cho người sử dụng lao động.

- Thời gian nghỉ việc riêng có hưởng lương theo khoản 1, Điều 116 của Bộ Luật Lao động.

- Thời gian nghỉ việc không hưởng lương nếu được người sử dụng lao động đồng ý nhưng cộng dồn không quá 1 tháng.

- Thời gian nghỉ do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp nhưng cộng dồn không quá 6 tháng.

- Thời gian nghỉ do ốm đau nhưng cộng dồn không quá 2 tháng.

- Thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

- Thời gian nghỉ để hoạt động công đoàn theo quy định của pháp luật về công đoàn.

- Thời gian phải ngừng việc, nghỉ việc không do lỗi của người lao động.

- Thời gian nghỉ vì bị tạm đình chỉ công việc.

- Thời gian bị tạm giữ, tạm giam nhưng được trở lại làm việc do được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kết luận không phạm tội.

Đối với trường hợp làm không đủ năm

Số ngày nghỉ hằng năm đối với trường hợp làm việc không đủ năm được tính như sau: lấy số ngày nghỉ hằng năm cộng với số ngày được nghỉ tăng thêm theo thâm niên (nếu có), chia cho 12 tháng, nhân với số tháng làm việc thực tế trong năm để tính thành số ngày được nghỉ hằng năm; kết quả phép tính lấy tròn số hàng đơn vị, nếu phần thập phân lớn hơn hoặc bằng 0,5 thì làm tròn lên 1 đơn vị.

Trường hợp ông Nguyễn Quý Đảng làm việc cho một công ty từ 23/2/2013 theo hợp đồng thử việc 3 tháng. Ngày 23/5/2013 ông được ký hợp đồng lao động chính thức, có thời hạn 1 năm.

Căn cứ các quy định khoản 1, Điều 111; khoản 2, Điều 114 Bộ Luật Lao động năm 2012 và khoản 2 Điều 6, Điều 7 Nghị định số 45/2013/NĐ-CP nêu trên, thời gian làm việc của ông Đảng được hưởng số ngày nghỉ phép năm 2013 được tính từ ngày ông bắt đầu làm việc tại Công ty theo hợp đồng thử việc 23/2/2013, cộng dồn với thời gian làm việc theo hợp đồng lao động chính thức từ 23/5/2013 đến hết ngày 31/12/2013. Như vậy cho đến hết ngày 31/12/2013 ông Đảng đã có 10 tháng làm việc tại Công ty được hưởng chế độ nghỉ phép năm 2013.

Nếu ông Đảng làm công việc trong điều kiện bình thường thì số ngày nghỉ phép năm 2013 của ông là: (12 ngày : 12 tháng) x 10 tháng = 10 ngày

Việc công ty trả lời ông Đảng chưa làm việc tại công ty đủ thời gian 12 tháng trong năm 2013 nên chưa được hưởng chế độ nghỉ phép năm 2013 là trái với quy định được viện dẫn nêu trên.

Luật sư Trần Văn Toàn

VPLS Khánh Hưng – Đoàn luật sư Hà Nội

* Thông tin chuyên mục có giá trị tham khảo với người đọc, không dùng làm tài liệu trong tố tụng pháp luật