(Chinhphu.vn) - Gia đình của ông Nguyễn Gia Đức (TPHCM) có 8 anh chị em, trong đó 1 người đã định cư nước ngoài. Bố mẹ ông Đức làm di chúc thừa kế nhà và 930m2 đất cho 7 người con tại Việt Nam, đồng thời chỉ định người con thứ 4 đại diện đứng tên quyền sử dụng đất.

Nay người con thứ 4 chết, 6 anh chị em của ông Đức đồng ý cho con gái của người con thứ 4 được đại diện đứng tên quyền sử dụng đất cho 7 người đồng sở hữu. Từ khi có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cháu ông Đức không bàn bạc cùng gia đình mà tự ý xây ki ốt cho thuê và cắt đứt mọi liên lạc.

Ông Đức hỏi, nay các anh chị em ông muốn chia tài sản chung, tách thửa, tách quyền sử dụng đất riêng cho từng người có được không? Tài sản chung trong căn nhà đó và cả số tiền thu được từ việc cho thuê mặt bằng sẽ được xử lý như thế nào?

Luật sư Trần Văn Toàn, Văn phòng luật sư Khánh Hưng - Đoàn luật sư Hà Nội trả lời ông Nguyễn Gia Đức như sau:

Theo ông Nguyễn Gia Đức phản ánh, 7 người gồm 6 anh chị em và 1 người cháu gái của ông, đều sinh sống ở trong nước, đã xác lập quyền sở hữu chung do nhận thừa kế theo di chúc đối với tài sản là  930m2 đất và nhà ở trên đất đó; đã được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất đứng tên đồng sở hữu 7 người do người cháu gái làm đại diện.

Điều 216 và Khoản 1, Điều 217 Bộ Luật Dân sự năm 2015 (có hiệu lực từ ngày 1/1/2017) quy định, các chủ sở hữu chung cùng quản lý tài sản chung theo nguyên tắc nhất trí; mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản chung tương ứng với phần quyền sở hữu của mình.

Việc người cháu gái của ông Đức không bàn bạc, không được các chủ sở hữu chung khác nhất trí mà đã tự ý xây dựng ki ốt cho thuê, một mình hưởng lợi tức của tất cả khối tài sản chung là trái pháp luật. Các chủ sở hữu chung khác có quyền yêu cầu người cháu gái chia lợi tức từ tài sản chung tương ứng với phần quyền sở hữu của mình.

Chia tài sản thuộc sở hữu chung

Theo Khoản 1, Điều 219 Bộ Luật Dân sự, trường hợp sở hữu chung có thể phân chia thì mỗi chủ sở hữu chung đều có quyền yêu cầu chia tài sản chung.

Khi tài sản chung không thể chia được bằng hiện vật thì chủ sở hữu chung có yêu cầu chia có quyền bán phần quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp các chủ sở hữu chung có thỏa thuận khác.

Theo đó, khi  cần chia tài sản chung thì mỗi chủ sở hữu chung đều có quyền yêu cầu chia tài sản chung. Nếu các chủ sở hữu chung nhất trí, thỏa thuận việc chia tài sản chung, thì có thể lập Văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung tại Tổ chức công chứng nơi có đất.

Nếu người cháu gái của ông Đức cố tình chiếm giữ tài sản chung, không chia cho các chủ sở hữu chung khác, thì các chủ sở hữu chung khác có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân nơi có đất chia tài sản chung và chia lợi tức từ tài sản chung tương ứng với phần quyền sở hữu của mình.

Việc chia quyền sử dụng đất liên quan đến việc chia tách thửa đất, phải phù hợp với quy định của pháp luật đất đai về kích thước, diện tích đất ở tối thiểu được phép tách thửa cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh, thành phố nơi có đất.

Trường hợp không thể chia được bằng hiện vật do khi chia các phần không đủ kích thước, diện tích đất ở tối thiểu được phép tách thửa, thì chủ sở hữu chung có yêu cầu chia có quyền bán phần quyền sở hữu của mình cho chủ sở hữu chung khác để nhận phần bằng tiền.

Văn bản thỏa thuận chia tài sản chung tại Tổ chức công chứng, hoặc Bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật là cơ sở đăng ký biến động quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở, xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền đất cho mỗi cá nhân sau khi chia tài sản chung.

Luật sư Trần Văn Toàn

VPLS Khánh Hưng, Đoàn luật sư Hà Nội

* Thông tin chuyên mục có giá trị tham khảo với người đọc, không dùng làm tài liệu trong tố tụng pháp luật.

Từ khóa: thừa kế , đồng sở hữu , quyền sử dụng đất