(Chinhphu.vn) - Ông Trần Thanh Đức (thanhduc22@...) và ông Nguyễn Minh Hiếu (hieunguyenco@...) đề nghị hướng dẫn về quyền lợi được hưởng khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động tại công ty cổ phần.

Ảnh minh họa
Ông Trần Thanh Đức, sinh năm 1964. Thời gian tham gia đóng BHXH từ tháng 8/1981 đến hết tháng 8/2013 là 32 năm 7 tháng. Từ tháng 12/2007, ông hưởng lương bậc 7/7, hệ số 4,40, hợp đồng lao động (HĐLĐ) không xác định thời hạn.

Trường hợp ông Nguyễn Minh Hiếu, sinh năm 1964. Thời gian tham gia đóng BHXH từ tháng 1/1982 đến hết tháng 8/2013 là 31 năm 8 tháng. Từ tháng 1/2010, hưởng lương bậc 7/7, hệ số 4,40, HĐLĐ không xác định thời hạn.

Hiện hai ông cùng công tác tại 1 Công ty cổ phần và muốn được biết, nếu hai ông đơn phương chấm dứt HĐLĐ vào tháng 9/2013 thì các ông được hưởng quyền lợi gì? Công ty các ông đang làm việc có trách nhiệm như thế nào?

Luật sư Trần Văn Toàn, Văn phòng Luật sư Khánh Hưng - Đoàn Luật sư Hà Nội trả lời như sau:

Theo quy định tại khoản 3, khoản 9, Điều 36 Bộ Luật lao động (BLLĐ) thì người lao động và người sử dụng lao động có thể thoả thuận chấm dứt HĐLĐ; hoặc người lao động có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật này.

Căn cứ khoản 3, Điều 37 BLLĐ quy định: Người lao động làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày.

Trợ cấp thôi việc

Tại Điều 48, BLLĐ quy định: Khi HĐLĐ chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này (trong đó có trường hợp quy định tại khoản 3, khoản 9 nêu trên) thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật BHXH và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 6 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.

Tại thời điểm này (tháng 9/2013), cách tính và chi trả tiền trợ cấp thôi việc tiếp tục áp dụng quy định tại Điều 2, Thông tư 17/2009/TT-BLĐTBXH sửa đổi khoản 3, mục III, Thông tư số 21/2003/TT-BLĐTBXH như sau:

Công thức tính trợ cấp thôi việc ở từng doanh nghiệp:

Tiền trợ cấp thôi việc

=

Tổng thời gian làm việc tại doanh nghiệp tính trợ cấp thôi việc

x

Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc

x ½

Trong đó:

- Tổng thời gian làm việc tại doanh nghiệp tính trợ cấp thôi việc (tính theo năm), trừ thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Nghị định số 127/2008/NĐ-CP. Trường hợp, tổng thời gian làm việc tại doanh nghiệp tính trợ cấp thôi việc có tháng lẻ (kể cả trường hợp người lao động có thời gian làm việc tại doanh nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên nhưng tổng thời gian làm việc tại doanh nghiệp tính trợ cấp thôi việc dưới 12 tháng) thì được làm tròn: Từ đủ 1 tháng đến dưới 6 tháng làm tròn thành 1/2 năm; Từ đủ 6 tháng đến dưới 12 tháng làm tròn thành 1 năm.

Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc là tiền lương, tiền công theo HĐLĐ, được tính bình quân của 6 tháng liền kề trước khi chấm dứt HĐLĐ, gồm tiền công hoặc tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp khu vực, phụ cấp chức vụ (nếu có).

Trường hợp sau khi sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, chuyển quyền sở hữu, quyền quản lý hoặc quyền sử dụng tài sản doanh nghiệp mà người lao động chấm dứt HĐLĐ, thì người sử dụng lao động kế tiếp có trách nhiệm cộng cả thời gian người lao động làm việc cho mình và thời gian làm việc cho người sử dụng lao động liền kề trước đó để tính trả trợ cấp thôi việc cho người lao động. Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc là tiền lương, tiền công theo HĐLĐ được tính bình quân của 6 tháng liền kề trước khi chấm dứt HĐLĐ cuối cùng.

Đối với công ty nhà nước thực hiện phương án sắp xếp lại hoặc chuyển đổi hình thức sở hữu (chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, cổ phần hóa, giao, bán) thì áp dụng theo quy định của Nhà nước đối với các trường hợp này.

Trường hợp ông Trần Thanh Đức và ông Nguyễn Minh Hiếu, sau khi nộp đơn xin thôi việc, nếu được công ty đồng ý cho thôi việc; hoặc đủ thời hạn báo trước 45 ngày thì các ông có quyền thôi việc.

- Về chế độ BHXH: Khi nghỉ việc hai ông Đức và Hiếu chưa đủ 50 tuổi, do vậy chưa đủ điều kiện về tuổi đời để nghỉ việc hưởng lương hưu theo Điều 50, Luật BHXH và chưa đủ điều kiện về tuổi đời để nghỉ việc hưởng lương hưu với mức thấp hơn khi suy giảm khả năng lao động theo Điều 51, Luật BHXH.

Thời gian đã tham gia đóng BHXH (ông Đức bằng 32 năm 7 tháng; ông Hiếu  bằng 31 năm 8 tháng) hai ông có thể chốt sổ BHXH bảo lưu thời gian đóng BHXH theo quy định tại Điều 57, Luật BHXH, để đến khi đủ tuổi đời hưởng lương hưu hoặc đủ tuổi đời hưởng lương hưu với mức thấp hơn khi suy giảm khả năng lao động; hoặc nhận ngay trợ cấp BHXH một lần theo Điều 56 Luật BHXH. Mức hưởng BHXH một lần được tính theo số năm đã đóng BHXH, cứ mỗi năm tính bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH.

- Về trợ cấp thôi việc: Nếu ông Trần Thanh Đức và ông Nguyễn Minh Hiếu có toàn bộ thời gian trước ngày 1/1/1995 làm việc ở khu vực nhà nước chưa nhận trợ cấp thôi việc, trước ngày 1/1/1995 đã chuyển đến doanh nghiệp nhà nước mà sau này doanh nghiệp đó cổ phần hóa  trở thành Công ty cổ phần và  tiếp tục làm việc tại công ty cổ phần này cho đến khi thôi việc, thì tổng thời gian làm việc trong khu vực nhà nước trước đây cộng với thời gian làm việc tại Công ty cổ phần hiện nay, trừ đi thời gian đã đóng BHTN từ ngày 1/1/2009 đến khi thôi việc, được dùng làm căn cứ để tính trợ cấp thôi việc.

Nếu ông Trần Thanh Đức và ông Nguyễn Minh Hiếu chuyển đến hoặc ký kết HĐLĐ sau ngày 1/1/1995 với doanh nghiệp nhà nước sau đó doanh nghiệp này cổ phần hóa trở thành Công ty cổ phần và tiếp tục làm việc tại công ty cổ phần này cho đến khi thôi việc, thì thời gian làm việc kể từ khi chuyển đến hoặc ký kết HĐLĐ với doanh nghiệp trước cổ phần hóa cộng với thời gian làm việc sau cổ phần hóa cho đến khi thôi việc, trừ đi thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ 1/1/2009 đến khi thôi việc, được dùng làm căn cứ để tính trợ cấp thôi việc.

Đề nghị ông Đức, ông Hiếu đối chiếu hướng dẫn tại Điều 2, Thông tư 17/2009/TT-BLĐTBXH  với trường hợp cụ thể để tính chính xác mức hưởng trợ cấp thôi việc.

Theo quy định tại khoản 2, khoản 3, Điều 47, BLLĐ, trong thời hạn 7 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt HĐLĐ, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ BHXH và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.

Luật sư Trần Văn Toàn

VPLS Khánh Hưng – Đoàn Luật sư Hà Nội

* Thông tin chuyên mục có giá trị tham khảo với người đọc, không dùng làm tài liệu trong tố tụng pháp luật.