(Chinhphu.vn) – Thu nhập làm căn cứ quy đổi thành thu nhập tính thuế là thu nhập thực nhận cộng các khoản lợi ích do người sử dụng lao động trả thay cho người lao động (nếu có) trừ các khoản giảm trừ.

Công ty của bà Trần Thị Hoa (Bình Dương) ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn với người lao động, trong đó thỏa thuận như sau:

- Tiền lương 50.000.000 đồng/tháng.

- Công ty sẽ thuê nhà cho người lao động ở với giá 10.000.000 đồng/tháng. Chi phí thuê nhà công ty chi trả trực tiếp với người cho thuê, người cho thuê cung cấp hóa đơn tài chính cho công ty.

- Người lao động phải chịu trách nhiệm đóng BHXH bắt buộc.

- Người lao động phải chịu trách nhiệm đóng thuế thu nhập cá nhân (TNCN) trên tiền lương được hưởng.

- Công ty sẽ chịu trách nhiệm đóng thuế TNCN phát sinh từ tiền thuê nhà cho người lao động.

Bà Hoa hỏi, đối với trường hợp trên, thuế TNCN được tính như thế nào?

Về vấn đề này, Cục Thuế tỉnh Bình Dương có ý kiến như sau:

Tại Khoản 4, Điều 7 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính có quy định như sau:

"4. Quy đổi thu nhập không bao gồm thuế thành thu nhập tính thuế

Trường hợp tổ chức, cá nhân trả thu nhập từ tiền lương, tiền công cho người lao động theo hướng dẫn tại khoản 2, Điều 2 Thông tư này không bao gồm thuế thì phải quy đổi thu nhập không bao gồm thuế thành thu nhập tính thuế theo Phụ lục số 02/PL-TNCN ban hành kèm theo Thông tư này để xác định thu nhập chịu thuế. Cụ thể như sau:

a) Thu nhập làm căn cứ quy đổi thành thu nhập tính thuế là thu nhập thực nhận cộng (+) các khoản lợi ích do người sử dụng lao động trả thay cho người lao động (nếu có) trừ (-) các khoản giảm trừ. Trường hợp trong các khoản trả thay có tiền thuê nhà thì tiền thuê nhà tính vào thu nhập làm căn cứ quy đổi bằng số thực trả nhưng không vượt quá 15% tổng thu nhập chịu thuế tại đơn vị (chưa bao gồm tiền thuê nhà)".

Tại Điều 11 Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/6/2015 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Điều 2 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính như sau:

"2. Sửa đổi, bổ sung tiết đ.1 điểm đ khoản 2 Điều 2

... Khoản tiền thuê nhà, điện nước và các dịch vụ kèm theo (nếu có) đối với nhà ở do đơn vị sử dụng lao động trả hộ tính vào thu nhập chịu thuế theo số thực tế trả hộ nhưng không vượt quá 15% tổng thu nhập chịu thuế phát sinh (chưa bao gồm tiền thuê nhà) tại đơn vị không phân biệt nơi trả thu nhập”.

Đối với trường hợp cụ thể của cá nhân được xác định như sau:

- Tiền lương: 50.000.000 đồng/tháng (cá nhân chịu thuế TNCN và các khoản bảo hiểm).

- Tiền thuê nhà công ty trả thay và chịu thuế TNCN: 10.000.000 đồng/tháng.

Căn cứ các quy định nêu trên, cá nhân xác định tiền thuê nhà tối đa để tính vào thu nhập chịu thuế là 15% tổng thu nhập chịu thuế phát sinh (chưa bao gồm tiền thuê nhà) để so sánh với tiền nhà thực tế mà công ty chi trả hộ:

50.000.000 đồng x 15% = 7.500.000 đồng/tháng.

Do tiền thuê nhà tính theo tỷ lệ 15% tổng thu nhập chịu thuế phát sinh (chưa bao gồm tiền thuê nhà) thấp hơn tiền nhà thực tế mà công ty chi trả hộ (10.000.000 đồng) nên cá nhân tính vào thu nhập chịu thuế là 7.500.000 đồng/tháng.

Tổng thu nhập chịu thuế để tính thuế TNCN: 50.000.000 đồng + 7.500.000 đồng = 57.500.000 đồng.

Sau khi xác định được tiền thuế TNCN phải nộp, cá nhân và công ty sẽ tính tỷ lệ giữa tiền thuê nhà (tính vào thu nhập chịu thuế) và tiền lương trên tổng thu nhập chịu thuế để xác định tiền thuế TNCN mỗi bên phải chịu trách nhiệm đóng góp.

Chinhphu.vn