(Chinhphu.vn) - Ông Bùi Xuân Quang làm việc tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài, đề nghị cơ quan chức năng giải đáp vướng mắc trong việc đánh giá hiệu lực của hồ sơ dự thầu và bảo lãnh dự thầu của nhà thầu.

Theo phản ánh của ông Quang, chủ đầu tư A tổ chức đấu thầu rộng rãi trong nước cho gói thầu xây lắp X. Thời điểm đóng thầu là 9h30 ngày 1/9/2015, thời điểm mở thầu là 10h00 ngày 1/9/2015. Hồ sơ mời thầu (HSMT) yêu cầu, thời gian có hiệu lực của hồ sơ dự thầu (HSDT) tối thiểu là 90 ngày kể từ ngày 1/9/2015; nhà thầu tham dự thầu phải nộp kèm theo bảo lãnh dự thầu (BLDT) có hiệu lực tối thiểu là 120 ngày kể từ ngày 1/9/2015.

Nhà thầu B tham gia dự thầu với nội dung sau: Thời gian có hiệu lực của HSDT là 95 ngày kể từ ngày 1/9/2015. Thời gian có hiệu lực của BLDT là 120 ngày kể từ ngày 1/9/2015.

Tình huống xảy ra như sau: Tổ chuyên gia đấu thầu đánh giá hiệu lực của HSDT và BLDT của Nhà thầu B đáp ứng theo yêu cầu của HSMT. Còn Tổ thẩm định có ý kiến: Hiệu lực BLDT của Nhà thầu B không đáp ứng theo yêu cầu của HSMT và Luật Đấu thầu với lý do hiệu lực của HSDT là 95 ngày thì hiệu lực của BLDT phải bằng (Hiệu lực của HSDT + 30) = 125 ngày mới đáp ứng yêu cầu của HSMT và Luật Đấu thầu.

Ông Quang hỏi, với tình huống trên thì ý kiến của Tổ chuyên gia đúng hay Tổ thẩm định đúng?

Về vấn đề này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có ý kiến như sau:

HSMT yêu cầu thời gian có hiệu lực của HSDT là 90 ngày kể từ ngày 1/9/2015, thời gian có hiệu lực của bảo đảm dự thầu là 120 ngày kể từ ngày 1/9/2015. Nếu HSDT của nhà thầu B chào thời gian có hiệu lực là 95 ngày kể từ ngày 1/9/2015 và thời gian có hiệu lực của bảo đảm dự thầu là 120 ngày kể từ ngày 1/9/2015 thì vẫn được coi là hợp lệ theo yêu cầu của HSMT đối với nội dung này.

Chinhphu.vn