(Chinhphu.vn) - Điện khí hóa nông thôn là một chương trình mục tiêu lớn của Đảng và Nhà nước ta trong công cuộc phát triển KTXH và chỉ sau 15 năm thực hiện, Việt Nam được quốc tế đánh giá là hình mẫu của thế giới về điện khí hóa nông thôn khi tỷ lệ  hộ gia đình hiện nay có điện đạt  hơn 97%.
 

Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải phát biểu tại Hội nghị. Ảnh: VGP/Nguyên Linh
Sáng 26/4, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã chủ trì và có bài phát biểu quan trọng tại Hội nghị tổng kết 15 năm điện khí  hóa nông thôn được tổ chức trực tuyến với các địa phương trong cả nước, sự tham gia của các tổ chức quốc tế, các Đại sứ  quán các nước tại Việt Nam.

Cổng TTĐT Chính phủ trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu của Phó Thủ tướng về Chương trình mục tiêu đặc biệt quan trọng, đạt nhiều thành công này.

Kính thưa các đồng chí lãnh đạo Bộ, ngành, các cơ quan Trung ương,

Kính thưa các đồng chí lãnh đạo các tỉnh, thành phố,

Kính thưa các vị đại diện các tổ chức quốc tế, các Đại sứ quán tại Việt Nam

Hôm nay, lẽ ra Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, người trực tiếp chỉ đạo và thường xuyên quan tâm đến  Chương trình điện khí hóa nông thôn đến tham dự với Hội nghị nhưng do có công việc đột xuất nên đã không đến được và tôi xin thay mặt đồng chí Thủ tướng xin chào mừng các quý vị đại biểu, khách quý đến tham dự Hội nghị Tổng kết 15 năm điện khí hóa nông thôn Việt Nam.

Chúng ta đều biết, phát triển điện đi trước một bước, bảo đảm điều kiện cơ bản cải thiện đời sống nhân dân, an sinh xã hội  chuyển dịch kinh tế nông thôn là một mục tiêu, chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước từ khi đất nước thống nhất đến nay, từ khi cả nước khi đó mới có 2,5% hộ dân có điện.

Thực hiện chủ trương đó, trong mỗi  bản Kế hoạch phát triển KTXH các giai đoạn của Trung ương, của từng địa phương đều đưa mục tiêu điện khí hóa nông thôn là một mục quan trọng. Với nỗ lực to lớn của hệ thống chính trị, của toàn dân, chương trình điện khí hóa nông thôn đạt nhiều thành tựu, đặc biệt trong 15 năm gần đây, tính đến hết năm 2013 đã có trên 97,5% số hộ dân cả nước có điện.

Điều này có ý nghĩa hết sức to lớn trong mục tiêu phấn đấu một nước Việt Nam dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Trong thực hiện Chương trình điện khí  hóa nông thôn, chúng ta đã gặp nhiều khó khăn, các Bộ, ngành liên quan, các địa phương cũng như ngành Điện, từng đơn vị trực thuộc đều thấm thía vấn đề này. Trước hết là khó về vốn, nhất là khi mới giải phóng, điện mới đáp ứng 2,5% số hộ dân chủ yếu ở thành phố; ở nông thôn điện mới chỉ đến các trạm tưới tiêu nông nghiệp. Chúng ta thiếu cơ sở hạ tầng vật chất, kỹ thuật, thiếu cả đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật. Báo cáo của Ngân hàng Thế giới còn chỉ ra khi đó ngành Điện Việt Nam thiếu cả quy chuẩn kỹ thuật, quy trình vận hành, phương pháp, các mô hình quản lý.

Các công trình điện nông thôn còn hết sức khó trong bài toán hoàn vốn kinh tế, trong khi bản thân ngành Điện hồi đó cũng là ngành bao cấp, giá điện cũng xây dựng trên cơ sở bao cấp nên càng khó huy động vốn, hoàn toàn không có huy động vốn từ xã hội mà chủ yếu dựa từ nguồn ngân sách Nhà nước và nguồn của ngành điện. Đe dọa về an toàn điện ở nông thôn là hết sức lớn.

Tuy vậy, với những nỗ lực thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước, cụ thể hóa bằng các kế hoạch, chiến lược phát triển của ngành, của các địa phương, phát huy được sức mạnh của hệ thống chính trị từ TƯ đến địa phương, ta đã chuyển được mong muốn khát khao rất lớn của nhiều thế hệ về một đất nước bừng ánh sáng điện trên khắp mọi miền Tổ quốc.

Chương trình đã sử dụng nhiều phương thức, mô hình đa dạng để đưa điện về từng thôn bản. Nhìn những bức ảnh, thước phim kéo điện về nông thôn, có thể thấy những hình ảnh hết sức xúc động về những người thợ kéo đường dây, vận hành từng cột điện, thanh thép; bê, gùi từng gầu nước, từng bao xi măng leo lên vùng cao, những làng bản xa xôi để đưa điện về mọi nơi.

Đưa điện về nông thôn đã được phát động thành phong trào rộng lớn; mô hình Nhà nước và nhân dân cùng làm đã biến thành mục tiêu, trách nhiệm chính trị của từng cấp, ngành, từng người dân.

Tôi còn nhớ, ở miền Tây Nam Bộ, những năm 1990-1995 tình hình cấp điện vô cùng khó khăn, mới chỉ có tuyến đường dây độc đạo và điện yếu "như con đom đóm". Nhưng bằng những phòng trào, mô hình phát triển năng động, ấn tượng, như “Người có điện trước rước người có điện sau”, hộ có điện rồi tiếp tục đóng góp để những hộ chưa có điện kéo được dây về, đến năm 1998, đồng chí cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã gọi điện khi đang đi công tác ở miền Tây, bày tỏ xúc động khi đi thuyền trên vùng Đồng Tháp Mười buổi tối nhìn thấy ánh điện sáng trên từng thôn ấp. Chưa bao giờ Tây Nam Bộ có được điều đó, dù khi đó điện mới chỉ phủ tới 30-40% số hộ dân.

Từ đó đến nay, mỗi ngày ta đưa vào một xã có điện, việc phủ điện đã hầu khắp trên mọi miền Tổ quốc và điện khí hóa đã đóng góp đến 30-40% vào việc phát triển KT-XH nông thôn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống người dân. Với những kết quả hiện tại, có thể thấy đó là một cố gắng, thành công ấn tượng, như nhận xét của những tổ chức quốc tế, rằng trong điều kiện khó khăn, Việt Nam là một trong số ít quốc gia làm được như vậy cho điện nông thôn. Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, kết quả đó cũng có sự đóng góp, giúp đỡ rất đáng kể của các tổ chức quốc tế đối với Việt Nam.

Quang cảnh Hội nghị. Ảnh: VGP/Nguyên Linh

Thay mặt Thủ tướng Chính phủ, tôi xin biểu dương những thành tích của các địa phương, các Bộ, ngành cơ quan TƯ, ngành Điện, đặc biệt đánh giá cao sự đóng góp quý báu của nhân dân các vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa của đất nước; đánh giá cao và cảm ơn sự ủng hộ, giúp đỡ có hiệu quả của các tổ chức quốc tế, các quốc gia như Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển châu Á, Liên minh châu Âu và các tổ chức quốc tế khác cho thành công của chương trình điện khí hóa nông thôn của Việt Nam trong 15 năm qua.

Chúng ta đang thực hiện chương trình phát triển năng lương quốc gia đến 2020, tầm nhìn 2050 với nhiều mục tiêu to lớn cũng như nhiều thác thức. Việt Nam vẫn là quốc gia thiếu năng lượng, bình quân đầu người tiêu thụ 1.200 kWh mỗi năm, mức thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực. Vì vậy “Điện đi trước một bước” vẫn là mục tiêu không hề cũ và ngày nào chúng ta còn để thiếu điện cho nền kinh tế là có lỗi với đất nước, nhân dân,

Chương trình đầu tư điện theo các Tổng sơ đồ đã và đang được thực hiện quyết liệt, những năm vừa qua, mỗi năm chúng ta đưa vào nguồn điện quốc gia 3.300 MW công suất, đây là một cố gắng lớn, chưa bao giờ đạt được. Đến nay, chúng ta đảm bảo đủ điện đáp ứng nhu cầu, có dự phòng và nhiệm vụ là duy trì nhất quán mục tiêu, đảm bảo phủ kín điện khắp đất nước với chất lượng cao, mở rộng lưới điện nông thôn cho tới từng hộ dân chưa được sử dụng điện. Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định 2081 chỉ rõ mục tiêu đến 2015 đảm bảo tỷ lệ có điện trên 98% và đến 2020 là đảm bảo cơ bản tất cả các hộ dân có điện.

Để đạt mục tiêu này, tôi đề nghị các Bộ, ngành, địa phương, ngành Điện phát huy kết quả đạt được, tập trung năng lực nâng cao khả năng vận hành, điều kiện cung cấp điện cho hệ thống hiện có. Đời sống đất nước cũng như vùng nông thôn đang ngày càng được cải thiện, nhu cầu điện ngày càng cao, thì yêu cầu cải tạo, nâng cấp chất lượng điện càng lớn và chúng ta phải chuẩn bị tốt nhất để đáp ứng. Hãy coi đưa điện về nông thôn mới là kết quả ban đầu, từ có điện phải trở thành có điện chất lượng, an toàn, quản lý điện minh bạch, nâng cao dịch vụ khách hàng..

Bộ Công Thương, Tập đoàn Điện lực Việt Nam là cơ quan điều phối chương trình này tiếp tục phối hợp với địa phương thực hiện nghiêm các nội dung của Quyết định 2081. Trong đó, đa dạng hóa đầu tư, thu hút và đưa vào hoạt động thành công các dự án BOT đầu tư nguồn điện (hiện trị giá tới 30 tỷ USD). Được như vậy sẽ tiết kiệm được lượng vốn đáng kể để đầu tư vào các chương trình khác, trong đó có điện nông thôn, cho các xã và 12.000 thôn còn lại chưa có điện, những người dân còn thiệt thòi do ở xa hơn, khó khăn nên có điện muộn hơn.

Tôi bày tỏ mong muốn sự giúp đỡ, hỗ trợ hơn nữa của các tổ chức quốc tế về điện nông thôn giai đoạn tiếp theo; sự hỗ trợ không chỉ là nguồn vốn mà còn là sự chuyển giao các mô hình quản lý, quy trình kỹ thuật, tăng cường thể chế để Việt Nam hoàn thiện dần cơ chế phát triển, quản lý ngành Điện cũng như thành công hơn nữa trong chương trình điện khí hóa nông thôn./.