(Chinhphu.vn) - Ông Lương Minh Giáp có bạn gái đã đăng ký kết hôn với công dân người Hàn Quốc năm 2009. Do mâu thuẫn vợ chồng, năm 2013 bạn gái ông trở về Việt Nam, muốn ly hôn với người chồng này ở tòa án nơi cư trú tại Việt Nam và sau đó kết hôn với ông Giáp. Vậy, bạn gái ông cần thực hiện thủ tục gì?

Ông Giáp cũng muốn được biết, nếu người chồng ở Hàn Quốc đã được cơ quan có thẩm quyền Hàn Quốc giải quyết việc ly hôn thì bạn gái ông phải làm thế nào để kết hôn tại Việt Nam?

Luật sư Lê Văn Đài, Văn phòng luật sư Khánh Hưng - Đoàn luật sư Hà Nội trả lời như sau:

Trường hợp bạn gái ông Lương Minh Giáp là người đã đăng ký kết hôn với công dân nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài năm 2009, là người đã có chồng. Do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, năm 2013 bà đó đã trở về sinh sống, cư trú tại Việt Nam, muốn ly hôn với người chồng nước ngoài ở Tòa án Việt Nam nơi bà cư trú, để sau đó kết hôn với người Việt Nam, thì bà đó cần phải thực hiện các thủ tục, theo các bước sau:

Bước 1: Thủ tục công nhận việc kết hôn của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài

Theo quy định tại Điều 16, Điều 17 Nghị định số 24/2013/NĐ-CP ngày 28/3/2013 của Chính phủ, việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài, phù hợp với pháp luật của nước đó thì được công nhận tại Việt Nam, nếu vào thời điểm kết hôn, công dân Việt Nam không vi phạm quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn.

Sự công nhận việc kết hôn này được ghi vào Sổ đăng ký kết hôn theo thủ tục sau:

Sở Tư pháp, nơi đăng ký thường trú của công dân Việt Nam thực hiện ghi vào Sổ đăng ký kết hôn việc kết hôn của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài (gọi tắt là ghi vào sổ việc kết hôn). Trường hợp công dân Việt Nam không có hoặc chưa có đăng ký thường trú, nhưng có đăng ký tạm trú theo quy định của pháp luật về cư trú thì Sở Tư pháp, nơi đăng ký tạm trú của công dân Việt Nam, thực hiện ghi vào sổ việc kết hôn.

Hồ sơ ghi vào sổ việc kết hôn được lập thành 1 bộ, gồm các giấy tờ sau:

- Tờ khai ghi vào sổ việc kết hôn (theo mẫu quy định)

- Bản sao giấy tờ chứng nhận việc kết hôn do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp.

Theo Điều 3 của Nghị định số 24/2013/NĐ-CP, giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài lập, cấp hoặc xác nhận để sử dụng giải quyết các việc hôn nhân và gia đình phải được hợp pháp hóa lãnh sự và dịch ra tiếng Việt.

- Bản sao một trong các giấy tờ để chứng minh về nhân thân, như Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc giấy tờ hợp lệ thay thế.

- Bản sao sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú của người có yêu cầu.

Hồ sơ ghi vào sổ việc kết hôn phải do một trong hai bên kết hôn nộp trực tiếp tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định nêu trên.

Sau khi thực hiện ghi vào sổ việc kết hôn, Giám đốc Sở Tư pháp ký và cấp cho người yêu cầu Giấy xác nhận về việc đã ghi chú vào sổ các việc hộ tịch (theo mẫu quy định).

Bước 2: Thủ tục ly hôn

Khi đã được Sở Tư pháp cấp Giấy xác nhận về việc đã ghi chú việc kết hôn đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài, công dân Việt Nam có thể làm đơn gửi Tòa án nơi cư trú ở Việt Nam đề nghị giải quyết vụ án ly hôn.

Căn cứ khoản 1, Điều 27; điểm a, khoản 1, Điều 34; điểm b, khoản 1 Điều 35 Bộ Luật tố tụng dân sự và khoản 3, Điều 102; khoản 1, Điều 104 Luật Hôn nhân và gia đình việc giải quyết vụ án ly hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Bước 3: Đăng ký kết hôn với người Việt Nam cư trú trong nước

Sau khi được Tòa án giải quyết ly hôn, người đã ly hôn sống độc thân có quyền kết hôn với người khác, trừ trường hợp bị cấm kết hôn theo quy định tại Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình.

Điều 11 và Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo nghi thức quy định. UBND xã, phường, thị trấn nơi cư trú của một trong hai bên kết hôn là cơ quan đăng ký kết hôn.

Thẩm quyền, thủ tục đăng ký kết hôn được quy định tại Điều 17, Điều 18 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch.

Tóm lại, trường hợp bạn gái của ông Lương Minh Giáp đã đăng ký kết hôn với công dân nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài vào năm 2009, hiện nay bà là người đang có chồng. Muốn kết hôn với người khác phải ly hôn với chồng. Muốn được Tòa án Việt Nam giải quyết ly hôn, một trong các điều kiện bắt buộc là bà phải được Sở Tư pháp nơi bà cư trú cấp Giấy xác nhận về việc đã ghi chú vào sổ hộ tịch việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài.

Sau khi có bản án, quyết định ly hôn bạn gái của ông Giáp có thể kết hôn với người Việt Nam cư trú trong nước tại UBND cấp xã của một trong hai bên kết hôn.

Trường hợp, nếu người chồng ở Hàn Quốc đã được cơ quan có thẩm quyền Hàn Quốc giải quyết việc ly hôn theo yêu cầu của người chồng, thì bạn gái của ông Giáp không cần tiến hành các thủ tục ở bước 1 và bước 2 nêu trên, nhưng trước khi kết hôn với người khác phải thực hiện thủ tục yêu cầu ghi vào sổ hộ tịch việc ly hôn đã tiến hành ở nước ngoài theo quy định tại Thông tư số 16/2010/TT-BTP ngày 8/10/2010 của Bộ Tư pháp. Hồ sơ yêu cầu ghi vào sổ hộ tịch việc ly hôn đã tiến hành ở nước ngoài được quy định tại Điều 6 Thông tư này, bao gồm:

- Tờ khai ghi vào sổ hộ tịch việc ly hôn đã tiến hành ở nước ngoài (theo mẫu);

- Bản sao Bản án/Quyết định ly hôn của Toà án nước ngoài đã có hiệu lực thi hành; bản sao Bản thoả thuận ly hôn do Tòa án nước ngoài hoặc cơ quan có thẩm quyền khác của nước ngoài công nhận đã có hiệu lực thi hành hoặc bản sao các giấy tờ khác do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp công nhận việc ly hôn;

- Bản sao giấy chứng minh nhân dân, hộ chiếu hoặc giấy tờ hợp lệ thay thế để chứng minh nhân thân của người có đơn yêu cầu;

- Bản sao hộ khẩu để chứng minh thẩm quyền ghi chú việc ly hôn.

Hồ sơ nêu trên được lập thành 2 bộ, nộp trực tiếp đến Sở Tư pháp nơi cư trú. Đối với những giấy tờ bằng tiếng nước ngoài phải được hợp pháp hoá lãnh sự, dịch ra tiếng Việt và được chứng thực theo quy định của pháp luật.

Luật sư Lê Văn Đài

VPLS Khánh Hưng, Đoàn luật sư Hà Nội

* Thông tin chuyên mục có giá trị tham khảo với người đọc, không dùng làm tài liệu trong tố tụng pháp luật.