(Chinhphu.vn) - Thông cáo báo chí của VPCP về thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng KCN hỗ trợ Đồng Văn III

Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp hỗ trợ Đồng Văn III (giai đoạn II) - tỉnh Hà Nam.

Theo chủ trương, Dự án trên được thực hiện tại thị trấn Đồng Văn, xã Tiên Nội và xã Hoàng Đông, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam với quy mô 168,41 ha do Công ty cổ phần đầu tư phát triển hạ tầng khu công nghiệp Đồng Văn III tỉnh Hà Nam thi công làm nhà đầu tư.

Mục tiêu Dự án là đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp. Vốn đầu tư dự án là 1.272.026.287.000 đồng; trong đó, vốn chủ sở hữu của Nhà đầu tư là 200.000.000.000 đồng và vốn huy động là 1.072.026.287.000 đồng.

UBND tỉnh Hà Nam chỉ đạo Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Hà Nam quy định cụ thể tiến độ thực hiện Dự án theo quy định tại điểm d khoản 8 Điều 33 Luật Đầu tư.

Thủ tướng Chính phủ giao UBND tỉnh Hà Nam chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin, số liệu báo cáo tại hồ sơ Dự án, các nội dung giải trình và các nội dung đã thẩm định theo quy định của pháp luật; đảm bảo việc triển khai thực hiện Dự án phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch phát triển các khu công nghiệp của Tỉnh; tự chịu trách nhiệm lựa chọn Nhà đầu tư để thực hiện Dự án đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật về đầu tư, đấu thầu, đất đai, kinh doanh bất động sản và pháp luật có liên quan.

UBND tỉnh Hà Nam thực hiện việc cho thuê đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất để thực hiện Dự  án theo đúng tiến độ và quy định của pháp luật về đầu tư, đất đai, trong đó lưu ý về việc thực hiện đúng quy định và điều kiện về việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất lúa; đảm bảo quyền sử dụng địa điểm đầu tư của Nhà đầu tư, đảm bảo không có tranh chấp, khiếu kiện về quyền sử dụng địa điểm, đảm bảo Nhà đầu tư có đủ điều kiện được Nhà nước giao đất, cho thuê đất.

Đồng thời, UBND tỉnh Hà Nam chỉ đạo Ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh Hà Nam yêu cầu Nhà đầu tư: (i) Thực hiện việc ký quỹ để đảm bảo thực hiện Dự án theo quy định tại Điều 42 Luật Đầu tư và Điều 27 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP; (ii) Đảm bảo đủ số vốn chủ sở hữu để thực hiện Dự án, bao gồm cả trường hợp doanh nghiệp đầu tư các dự án khác ngoài Dự án này và (iii) Cụ thể phương án huy động vốn vay để thực hiện Dự án bằng các hợp đồng tín dụng đảm bảo tính khả thi trong quá trình huy động nguồn lực thực hiện Dự án.

Cùng với đó, Ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh Hà Nam phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hà Nam và các cơ quan liên quan kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện Dự án theo đúng tiến độ được phê duyệt, đảm bảo vốn điều lệ và vốn chủ sở hữu của Nhà đầu tư để thực hiện Dự án là vốn thực góp theo đúng quy định của pháp luật về đất đai, đầu tư và doanh nghiệp.

Thủ tướng Chính phủ cũng yêu cầu UBND tỉnh Hà Nam chỉ đạo Ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh Hà Nam và các cơ quan liên quan tổ chức giám sát, đánh giá việc thực hiện Dự án theo quy định của pháp luật về đầu tư; tuân thủ các yêu cầu về bảo vệ môi trường, sử dụng đất đai theo quy định của pháp luật đầu tư, đất đai, môi trường và tài nguyên nước; giám sát việc góp vốn thực hiện Dự án và huy động vốn đầu tư Dự án; phối hợp với Nhà đầu tư triển khai phương án đền bù giải phóng mặt bằng theo quy định của pháp luật; triển khai các giải pháp liên quan đến đời sống người lao động trong khu công nghiệp, trong đó có phương án xây dựng nhà ở, công trình xã hội, văn hóa, thể thao cho người lao động khu công nghiệp và hỗ trợ việc làm, đào tạo nghề cho người dân bị thu hồi đất; xây dựng phương án thu hồi đất phù hợp với tiến độ thu hút đầu tư của Dự án để giảm thiểu tối đa ảnh hưởng đến người dân bị thu hồi đất; chỉ đạo nhà đầu tư tiếp thu ý kiến của các bộ, ngành trong quá trình triển khai đầu tư, xây dựng và vận hành khu công nghiệp; cam kết sử dụng vốn chủ sở hữu của Nhà đầu tư để thực hiện Dự án và huy động các nguồn vốn thực hiện Dự án đúng tiến độ; thu hút đầu tư vào khu công nghiệp phải phù hợp với các quy hoạch đã được phê duyệt; thực hiện các giải pháp bảo vệ môi trường được nêu trong Báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt và tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.

Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ hướng dẫn UBND tỉnh Hà Nam và Nhà đầu tư thực hiện các quy định pháp luật về đất đai và môi trường.

Khẩn trương xây dựng, hoàn thiện Cổng dịch vụ công

Các bộ, ngành, địa phương khẩn trương xây dựng, hoàn thiện Cổng dịch vụ công, Hệ thống thông tin một cửa điện tử cấp bộ, cấp tỉnh bảo đảm các chức năng theo quy định, kết nối, tích hợp với Cổng dịch vụ công quốc gia và sớm ban hành quy chế quản lý, vận hành các hệ thống này.

Văn phòng Chính phủ vừa có Thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại Hội nghị trực tuyến Ủy ban Quốc gia về Chính phủ điện tử với các Ban Chỉ đạo xây dựng Chính phủ điện tử, Chính quyền điện tử Bộ, ngành, địa phương.

Thủ tướng Chính phủ biểu dương, đánh giá cao vai trò của Văn phòng Chính phủ, Bộ Thông tin và Truyền thông và các bộ, ngành, địa phương, Tổ công tác giúp việc Chủ tịch Uỷ ban đã nỗ lực triển khai các nhiệm vụ xây dựng Chính phủ điện tử; hoan nghênh sự vào cuộc tích cực của các doanh nghiệp công nghệ thông tin trong nước đã sẵn sàng tiếp cận, thử nghiệm các công nghệ tiên tiến trên thế giới để áp dụng triển khai các hệ thống thông tin Chính phủ điện tử và sự tham gia, hỗ trợ tích cực của các tổ chức, chuyên gia trong nước, quốc tế.

Với quyết tâm cao cùng sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương đã có nhiều chuyển biến trong nhận thức và quá trình triển khai xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số, nền kinh tế số và xã hội số, gắn kết chặt chẽ giữa cải cách hành chính với ứng dụng công nghệ thông tin, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm.

Thời gian tới, để tiếp tục đẩy mạnh và phát huy hơn nữa tinh thần khẩn trương, hành động quyết liệt xây dựng Chính phủ điện tử, Thủ tướng Chính phủ giao các Phó Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương tập trung vào một số nhiệm vụ.

Cụ thể,  Phó Thủ tướng thường trực Chính phủ Trương Hoà Bình chỉ đạo Bộ Công an đẩy nhanh tiến độ xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam chỉ đạo, xem xét, quyết định các vấn đề, công việc thường xuyên của Uỷ ban Quốc gia về Chính phủ điện tử, trực tiếp chỉ đạo hoạt động toàn diện của Tổ công tác giúp việc Chủ tịch Uỷ ban. Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, Phó Chủ tịch Uỷ ban và Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ chỉ báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban xem xét, giải quyết những vấn đề lớn và quan trọng. Chủ trì phiên họp Uỷ ban trong tháng 11 năm 2019 để đánh giá kết quả triển khai xây dựng Chính phủ điện tử trước khi thực hiện sơ kết Nghị quyết số 17/NQ-CP vào tháng 12 năm 2019.

Bên cạnh đó, chỉ đạo Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ, Tổ công tác giúp việc Chủ tịch Uỷ ban chuẩn bị xây dựng chiến lược phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2021-2025, định hướng đến 2030, trình Thủ tướng Chính phủ trong năm 2020; chỉ đạo hoàn thiện Đề án về giải pháp kết nối, chia sẻ dữ liệu và tái cấu trúc hạ tầng công nghệ thông tin tại các bộ, ngành, địa phương.

Các bộ, ngành, địa phương nghiêm túc thực hiện các nhiệm vụ theo chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 17/NQ-CP và Kế hoạch hoạt động của Uỷ ban Quốc gia về Chính phủ điện tử 6 tháng cuối năm 2019, đặc biệt cần khẩn trương hoàn thành các nhiệm vụ đã quá hạn. Các Ban Chỉ đạo cần phát huy vai trò chỉ đạo, điều phối việc xây dựng Chính phủ điện tử, Chính quyền điện tử tại Bộ, ngành, địa phương mình; kịp thời tham mưu, đề xuất Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương các giải pháp thúc đẩy việc triển khai thực hiện bảo đảm tiến độ, hiệu quả.

Khẩn trương xây dựng, hoàn thiện Cổng dịch vụ công, Hệ thống thông tin một cửa điện tử cấp bộ, cấp tỉnh bảo đảm các chức năng theo quy định, kết nối, tích hợp với Cổng dịch vụ công quốc gia và sớm ban hành quy chế quản lý, vận hành các hệ thống này. Đồng thời, rà soát quy trình, hồ sơ thực hiện thủ tục hành chính để thực hiện cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 theo các danh mục Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt giai đoạn 2017-2019, ưu tiên làm trước các dịch vụ công thiết yếu và nâng cấp chất lượng dịch vụ đang cung cấp theo hướng thân thiện với người dùng. Chủ động nghiên cứu giải pháp, số hoá giấy tờ và thực hiện chuẩn hoá cơ sở dữ liệu thủ tục hành chính của Bộ, ngành, địa phương mình trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính.

Văn phòng Chính phủ làm đúng theo chức năng nhiệm vụ  được giao, không làm thay chức năng của Bộ Thông tin và Truyền thông. Tập trung nguồn lực xây dựng Cổng Dịch vụ công quốc gia và đưa vào vận hành trong tháng 11 năm 2019; trình Chính phủ xem xét, ban hành Nghị định về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử trong tháng 12 năm 2019.

Bộ Thông tin và Truyền thông phát huy vai trò, chức năng quản lý nhà nước về ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng Chính phủ điện tử. Hàng năm chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ, Tổ công tác giúp việc Chủ tịch Ủy ban đánh giá rủi ro và đề xuất giải pháp giảm thiểu rủi ro trong quá trình triển khai xây dựng Chính phủ điện tử.

Bên cạnh đó, tập trung xây dựng Nghị định về  định danh và xác thực điện tử và Nghị định về quản lý, kết nối, chia sẻ dữ liệu phù hợp với thực tiễn, thuận lợi khi triển khai, trình Chính phủ trong tháng 9 năm 2019. Chịu trách nhiệm trước Chính phủ về việc quản trị dữ liệu, xây dựng chiến lược quốc gia về quản trị dữ liệu, quy định rõ trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương trong quản trị, khai thác dữ liệu… để bảo đảm dữ liệu là nguồn tài nguyên quan trọng cho chuyển đổi số và nền kinh tế số.

Đồng thời, xây dựng danh sách các nền tảng dùng chung của Chính phủ điện tử và phương án đầu tư, thuê dịch vụ công nghệ thông tin để triển khai các hạng mục này, trình Thủ tướng Chính phủ trong tháng 9 năm 2019; chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Ban Cơ yếu Chính phủ khẩn trương nghiên cứu, đề xuất sửa đổi Quy chế phối hợp trong hoạt động bảo đảm an toàn, an ninh thông tin trên mạng phù hợp với tình hình thực tiễn, hoàn thành trong năm 2019. 

Bộ Công an tập trung xây dựng Nghị định về bảo vệ dữ liệu cá nhân, trình Chính phủ trong quý I năm 2020 và sớm trình Thủ tướng Chính phủ Đề án về bảo đảm an ninh mạng trong xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử. Ưu tiên và huy động các nguồn lực hợp pháp trong triển khai xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Bộ Nội vụ tập trung xây dựng Nghị định thay thế Nghị định số 110/2004/NĐ-CP ngày 8/4/2004 của Chính phủ về công tác văn thư, trình Chính phủ trong tháng 9 năm 2019. Bộ Tài chính khẩn trương báo cáo Thủ tướng Chính phủ giải pháp huy động nguồn lực để triển khai các dự án xây dựng Chính phủ điện tử.

Tổ công tác giúp việc Chủ tịch Uỷ ban không làm thay chức năng, nhiệm vụ của các bộ, ngành, địa phương; thường xuyên theo dõi, đôn đốc Bộ, ngành, địa phương thực hiện các chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban trong triển khai xây dựng Chính phủ điện tử. Kịp thời báo cáo, tham mưu Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban chỉ đạo tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và xử lý các trường hợp chậm triển khai.

Về vấn đề an toàn, an ninh mạng, người đứng đầu các cơ quan hành chính nhà nước, doanh nghiệp nhà nước, tổ chức tín dụng, tài chính nhà nước thực hiện nghiêm các chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 7/6/ 2019 về việc tăng cường bảo đảm an toàn, an ninh mạng nhằm cải thiện chỉ số xếp hạng của Việt Nam.

Các Bộ: Công an, Quốc phòng, Thông tin và Truyền thông, Ban Cơ yếu Chính phủ tăng cường chia sẻ thông tin, phối hợp chặt chẽ bảo đảm an toàn thông tin mạng cho các hệ thống thông tin Chính phủ điện tử; giám sát nghiêm ngặt các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ công nghệ thông tin về vấn đề an toàn thông tin, an ninh mạng, không được để lộ lọt dữ liệu, bí mật nhà nước. Ngược lại, các doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trước cơ quan chủ quản hệ thống thông tin về công tác này.

Phó Thủ tướng trả lời chất vấn về xuất xứ sản phẩm và công nghiệp phụ trợ

Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh vừa ký văn bản trả lời chất vấn đại biểu Quốc hội về 2 vấn đề nguồn gốc xuất xứ sản phẩm và công nghiệp phụ trợ.

Tại kỳ họp thứ 7, Đại biểu Quốc hội Nguyễn Đức Kiên - Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Sóc Trăng chất vấn: "Chúng ta đã ký Hiệp định CPTPP và đã có hiệu lực, chương trình hành động của Chính phủ có nhiều, tuy nhiên, xin Phó Thủ tướng cho biết 2 vấn đề về nguồn gốc xuất xứ sản phẩm và công nghiệp phụ trợ”.

Trả lời chất vấn trên, Phó Thủ tướng cho biết, hiện nay, Việt Nam đã ký kết 13 Hiệp định thương mại tự do (FTA) gồm FTA nội khối giữa 10 nước ASEAN; 6 FTA chúng ta cùng ASEAN ký kết với các đối tác Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Ôt-xtrây-lia, Niu Di-lân; 4 FTA song phương với Nhật Bản, Chi lê, Hàn Quốc và Liên minh Kinh tế Á-Âu; và gần đây nhất là Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EVFTA). Tuy nhiên, tỷ lệ tận dụng ưu đãi từ các FTA của Việt Nam không cao. Một trong những nguyên nhân là do khả năng đáp ứng các yêu cầu liên quan đến vấn đề quy tắc xuất xứ. Trong CPTPP, các quy định về quy tắc xuất xứ được đánh giá là chặt chẽ, tuy nhiên cũng linh hoạt với quy tắc cộng gộp hay nguồn cung thiếu hụt.

Với tinh thần khẩn trương xây dựng văn bản nội luật hóa nhằm thực hiện các cam kết tại Hiệp định CPTPP, ngày 22/01/2019, ta đã ban hành Thông tư số 03/2019/TT-BCT quy định Quy tắc xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định CPTPP. Để hỗ trợ doanh nghiệp trong việc thực hiện Thông tư về quy tắc xuất xứ trong CPTPP, các buổi tập huấn nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, cho các tổ chức được ủy quyền cấp giấy chứng nhận xuất xứ (C/O), các doanh nghiệp quan tâm đã được tổ chức thường xuyên.

Trong quá trình ban hành, Thông tư đã được lấy ý kiến đông đảo cộng đồng doanh nghiệp và các tổ chức liên quan, tạo môi trường để doanh nghiệp cũng như các tổ chức cấp C/O có quy định cụ thể và minh bạch về xuất xứ trong CPTPP. Trong quá trình thực thi, đầu mối của Việt Nam là Bộ Công Thương cũng đã chủ động phối hợp với cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu trong trường hợp có yêu cầu xác minh xuất xứ nhằm tránh trường hợp giả mạo xuất xứ, hoặc hỗ trợ doanh nghiệp để C/O được chấp nhận. Ngoài ra, đầu mối xử lý và trả lời vướng mắc của doanh nghiệp trong quá trình thực thi Thông tư đã được thiết lập.

Một nguyên nhân chủ yếu khiến doanh nghiệp Việt Nam khó đáp ứng các yêu cầu về quy tắc xuất xứ trong các FTA nói chung và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP nói riêng, là do ngành công nghiệp phụ trợ trong nước chưa phát triển. Điển hình với ngành dệt may, quy định xuất xứ từ sợi trong CPTPP được xem là một thách thức lớn khi có tới 80% nguyên phụ liệu dệt may nước ta chủ yếu đang được nhập khẩu từ Trung Quốc. Trong khi đó, nguyên nhân khiến ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam khó phát triển là do thiếu nguồn tài chính và công nghệ tiên tiến...

Với CPTPP, chúng ta kỳ vọng vào sự gia tăng đầu tư từ các nước thành viên CPTPP, cùng với đó, doanh nghiệp sẽ có cơ hội tiếp cận và chuyển giao các công nghệ tiên tiến, hiện đại, phục vụ sản xuất. Trong thời gian tới, điều quan trọng là ta phải xác định các ngành công nghiệp phụ trợ cần tập trung vốn đầu tư, tận dụng lợi ích mà CPTPP để xây dựng môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch. Bên cạnh đó, ta tiếp tục thực hiện chính sách thu hút các dự án đầu tư có hàm lượng công nghệ cao, cam kết chuyển giao công nghệ để thực sự có lợi cho doanh nghiệp trong nước.

Giúp cộng đồng DN chủ  động ứng phó các tranh chấp thương mại

Trong thời gian tới, Chính phủ, các bộ ngành, địa phương sẽ bám sát các Nghị quyết, Kế hoạch hành động thực thi các Hiệp định thương mại để  định hướng, hỗ trợ và hướng dẫn các địa phương, đặc biệt là cộng đồng doanh nghiệp chủ động ứng phó vượt qua các thách thức tranh chấp thương mại.

Vừa qua, Đại biểu Bùi Thanh Tùng (Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng) có chất vấn đề nghị Thủ tướng Chính phủ cho biết, trong thời gian tới, Chính phủ sẽ có những giải pháp, chương trình, kế hoạch gì để định hướng, hỗ trợ và hướng dẫn các địa phương và doanh nghiệp chủ động ứng phó, vượt qua những thách thức khi Việt Nam gia nhập các Hiệp định thương mại Thế giới.

Trả lời chất vấn của Đại biểu Bùi Thanh Tùng, thay mặt Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh cho biết, một trong những đặc điểm chính của hợp tác kinh tế – thương mại quốc tế trong thời gian gần đây là việc xuất hiện của những mối liên kết hợp tác kinh tế mới và sự phát triển mạnh của các xung đột thương mại ở cấp độ song phương, khu vực và thậm chí là cả khuôn khổ đa phương của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Trong bối cảnh phức tạp và khó lường đó, Việt Nam là một trong số ít nước vẫn duy trì quyết tâm mở cửa, hội nhập với nền kinh tế thế giới trên cơ sở các nguyên tắc phù hợp với đường lối đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ, mà kết quả rõ nhất là Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) được Quốc hội Việt Nam chính thức thông qua và có hiệu lực vào tháng 1 năm nay. Đến giữa năm, lại có thêm một thông tin tích cực nữa về việc thực hiện các chủ trương của Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 05 tháng 11 năm 2016 của Ban chấp hành Trung ương đảng về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (Nghị quyết số 06) là việc ký kết Hiệp định Thương mại Tự do giữa Việt Nam và EU (EVFTA). Như vậy, không chỉ có một mà đến hai hiệp định thương mại tự do (FTA) “thế hệ mới” được Việt Nam tham gia, góp phần thiết lập quan hệ đối tác bình đẳng, trên cơ sở đôi bên cùng có lợi với một số nền kinh tế phát triển nhất thế giới.

Việc tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đem lại rất nhiều kỳ vọng cho Việt Nam. Theo kết quả nghiên cứu chính thức từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Hiệp định CPTPP sẽ giúp GDP và xuất khẩu của Việt Nam tăng tương ứng là 1,32% và 4,04% đến năm 2035. Trong khi đó, Hiệp định EVFTA sẽ góp phần làm GDP của Việt Nam tăng thêm ở mức bình quân 2,18-3,25% (năm 2019-2023) và lên tới 7,07-7,72% trong giai đoạn 2029-2033; và kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU tăng thêm khoảng 44,37% vào năm 2030. Cùng với các cơ hội đặt ra thì việc thực thi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới cũng đặt ra không ít thách thức, đặc biệt đối với Hiệp định EVFTA khi Việt Nam là nền kinh tế có trình độ phát triển thấp nhất so với các nước trong khu vực đã ký FTA với EU.

Trong thời gian vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 121/QĐ-TTg ngày 24 tháng 01 năm 2019 phê duyệt Kế hoạch thực hiện Hiệp định CPTPP. Quyết định đã xác định rõ những công việc cụ thể nhằm triển khai việc thực thi Hiệp định CPTPP, trong đó xác định rõ nội dung công việc, cơ quan chủ trì, phối hợp, sản phẩm và thời gian hoàn thành công việc. Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, cơ quan cấp trung ương và địa phương đã xây dựng kế hoạch thực thi Hiệp định CPTPP của riêng mình (tính đến thời điểm ngày 9 tháng 7 năm 2019, đã có 23 Bộ, ngành, cơ quan trung ương và 55 cơ quan cấp địa phương ban hành kế hoạch thực hiện Hiệp định CPTPP của mình). Tại Kế hoạch thực hiện Hiệp định CPTPP, các bộ, ngành, cơ quan trung ương và địa phương đều nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác tuyên truyền và nâng cao tính cạnh tranh, phát triển nguồn nhân lực (nội dung cụ thể của kế hoạch được đăng tải trên chuyên trang về CPTPP do Bộ Công Thương quản lý tại địa chỉ: http://cptpp.moit.gov.vn).

Nhằm hiện thực hóa các kỳ vọng và giúp doanh nghiệp chủ động ứng phó, vượt qua các thách thức trong bối cảnh Việt Nam đang tham gia vào ngày càng nhiều các hiệp định thương mại tự do, trong thời gian vừa qua, các cơ quan cấp trung ương, địa phương đã bám sát Kế hoạch thực hiện Hiệp định CPTPP của Chính phủ để tổ chức nhiều các hội thảo, hội nghị, tọa đàm nhằm phổ biến thông tin về hiệp định và thị trường của các nước thành viên trong các Hiệp định. Các hội thảo, hội nghị được tổ chức theo ngành, theo khu vực như Hội nghị về Hiệp định CPTPP cho các tỉnh Đông Bắc Bộ tập trung vào nội dung thu hút đầu tư từ các nước thành viên CPTPP, Hội thảo về Hiệp định CPTPP cho các tỉnh Tây Nguyên được tổ chức tại Lâm Đồng, trong đó tập trung vào đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng nông sản, hoặc hội thảo với nội dung chuyên sâu về thị trường từng nước thành viên CPTPP. Bộ Công Thương – với vai trò là đầu mối thông tin về các hiệp định thương mại tự do nói chung – đã tích cực cung cấp thông tin và giải đáp, tháo gỡ các vướng mắc cho cộng đồng doanh nghiệp, người dân trong quá trình thực thi các hiệp định thông qua kênh trực tiếp như các buổi tập huấn hay qua phương tiện điện tử, ngoài ra, công tác dự báo thị trường cũng được chú trọng thực hiện. Bên cạnh đó, các cơ quan cũng đã xây dựng các chương trình hỗ trợ, nâng cao năng lực cạnh tranh cho các ngành hàng, doanh nghiệp…

Trong thời gian tới, trong bối cảnh Việt Nam đã là thành viên của 02 Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới có quy mô lớn, Chính phủ, các bộ, ngành, cơ quan trung ương và địa phương sẽ tiếp tục tích cực và chủ động bám sát Nghị quyết số 06 nói chung và Kế hoạch hành động thực thi Hiệp định CPTPP nói riêng, sắp tới là Hiệp định EVFTA, để định hướng, hỗ trợ và hướng dẫn các địa phương, đặc biệt là cộng đồng doanh nghiệp chủ động ứng phó vượt qua các thách thức./.

Diệu Hương