(Chinhphu.vn) – Trường hợp quy định bảo đảm dự thầu theo hình thức nộp thư bảo lãnh thì thư bảo lãnh phải được đại diện hợp pháp của tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thành lập theo pháp luật Việt Nam ký tên với giá trị và thời hạn hiệu lực, đơn vị thụ hưởng theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu.

Theo phản ánh của ông Huỳnh Bửu Thăng (Long An), thỏa thuận liên danh được ký kết ngày 27/9/2019 giữa công ty A liên danh với công ty B là liên danh công ty A + B (công ty A là thành viên đứng đầu liên danh, và công ty A sẽ thực hiện bảo lãnh cho cả liên danh).

Bảo lãnh dự thầu chỉ bảo lãnh/thực hiện riêng lẻ cho công ty A nhưng giá trị bảo lãnh bằng với yêu cầu của hồ sơ mời thầu. Thông báo bảo lãnh dự thầu được phát hành ngày 25/9/2019 của Ngân hàng (thời gian thực hiện bảo lãnh trước thời điểm 2 bên ký kết liên danh)

Ông Thăng hỏi, bảo lãnh dự thầu này có hợp lệ không? Bảo lãnh dự thầu cho liên danh thực hiện trước khi thỏa thuận liên danh có hợp lệ không?

Bộ Kế hoạch và Đầu tư trả lời vấn đề này như sau:

Theo quy định tại Khoản 2, Điều 18 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP, hồ sơ dự thầu hợp lệ phải có bảo đảm dự thầu với giá trị và thời hạn hiệu lực đáp ứng yêu cầu của hồ sơ mời thầu.

Đối với trường hợp quy định bảo đảm dự thầu theo hình thức nộp thư bảo lãnh thì thư bảo lãnh phải được đại diện hợp pháp của tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thành lập theo pháp luật Việt Nam ký tên với giá trị và thời hạn hiệu lực, đơn vị thụ hưởng theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu.

Theo đó, việc đánh giá tính hợp lệ của bảo đảm dự thầu thực hiện theo quy định của hồ sơ mời thầu, trên cơ sở quy định nêu trên và thuộc trách nhiệm của tổ chuyên gia, bên mời thầu.

Chinhphu.vn