(Chinhphu.vn) – Dự thảo Luật Giáo dục đại học đề cập tới hàng loạt giải pháp nhằm giải quyết các bài toán đang đặt ra với giáo dục đại học Việt Nam hiện nay.

Trả lời phỏng vấn của Cổng TTĐT Chính phủ, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Bùi Văn Ga làm rõ một số nét mới trong Dự thảo mà bạn đọc quan tâm như bài toán về suất đầu tư và chất lượng, mối quan hệ giữa quy mô và chất lượng đào tạo, cơ chế, chính sách tăng cường quyền tự chủ cho các trường.

Ông khẳng định, Luật Giáo dục đại học được xây dựng dựa trên quan điểm thực tiễn, quan điểm toàn diện và quan điểm phát triển, góp phần giải quyết những vấn đề bức xức mà thực tiễn giáo dục đại học đang đặt ra và thực hiện những mục tiêu chiến lược của giáo dục đại học.

Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Bùi Văn Ga: Luật Giáo dục đại học được xây dựng dựa trên quan điểm thực tiễn, quan điểm toàn diện và quan điểm phát triển, góp phần giải quyết những vấn đề bức xức mà thực tiễn giáo dục đại học đang đặt ra và thực hiện những mục tiêu chiến lược của giáo dục đại học.

Phóng viên: Thưa Thứ trưởng, mục tiêu cơ bản của dự thảo Luật Giáo dục Đại học là gì?

Thứ trưởng Bùi Văn Ga: Mục tiêu cơ bản của dự thảo Luật Giáo dục đại học là tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động giáo dục đại học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay và chuẩn bị nguồn nhân lực cho nền kinh tế tri thức trong giai đoạn tiếp theo. Có thể nói nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực là mục tiêu xuyên suốt của bản dự thảo Luật Giáo dục đại học.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và khoa học công nghệ phát triển nhanh chóng như ngày nay, nâng cao khả năng tư duy và năng lực sáng tạo, tự học tập, nghiên cứu của sinh viên là yêu cầu hàng đầu. Trong điều 4 của dự thảo Luật đã nhấn mạnh đến một trong những mục tiêu cơ bản của giáo dục đại học là: “năng lực nghiên cứu và phát triển ứng dụng khoa học công nghệ” cũng như “khả năng sáng tạo” của sinh viên để “thích nghi với môi trường làm việc”.

Giải quyết bài toán suất đầu tư và chất lượng

Phóng viên: Để đào tạo được đội ngũ cán bộ theo mục tiêu trên thì suất  đầu tư cho mỗi sinh viên phải đủ lớn trong khi suất đầu tư của nước ta hiện nay còn quá thấp so với các nước phát triển. Dự thảo Luật lần này giải quyết bài toán suất đầu tư và chất lượng như thế nào?

Thứ trưởng Bùi văn Ga: Trong điều kiện hiện nay, chúng ta chưa đủ điều kiện đầu tư đồng loạt cho tất cả các trường, các ngành, các lĩnh vực để thực hiện mục tiêu đào tạo này. Vì vậy, Nhà nước cần tập trung nguồn lực đầu tư một số trường đại học trọng điểm, đại học xuất sắc. Các trường chủ động chọn những ngành có thế mạnh, có đủ điều kiện để phát triển thành các chương trình chất lượng cao, các chương trình tiên tiến.

Để hỗ trợ cho các trường phát triển các chương trình đào tạo chất lượng cao, đặc biệt các ngành mũi nhọn mà nước ta chưa có nhiều kinh nghiệm, Chính phủ có chính sách phù hợp nhằm giúp các trường phát triển hoạt động hợp tác quốc tế, quy định chính sách đầu tư, chế độ đãi ngộ nhằm thu hút các nhà khoa học quốc tế, người Việt Nam ở nước ngoài tham gia vào các hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ cho các trường đại học Việt Nam (điều 40).

Các chương trình chất lượng cao theo chuẩn mực quốc tế như trên cần có suất  đầu tư lớn mà nếu chỉ dựa vào các qui định về mức thu học phí của các trường công lập như hiện nay chúng ta khó có thể thực hiện được. Vì vậy, trên cơ sở Nghị quyết số 50 ngày 19/6/2010 của Quốc hội khóa XII, dự thảo Luật Giáo dục Đại học đã quy định cho phép các cơ sở giáo dục đại học công lập được xây dựng các chương trình đào tạo chất lượng cao với mức thu học phí tương ứng để đảm bảo mức chất lượng đã cam kết (điều 63).

Như vậy với quy định của dự thảo Luật Giáo dục đại học, các trường không còn bị rào cản về kinh phí đầu tư cho mỗi sinh viên để nâng cao chất lượng đào tạo. Các trường chủ động xây dựng các chương trình đào tạo chất lượng tương ứng với các trường đại học của các nước phát triển và công khai chi phí đào tạo. Chi phí phụ trội của các chương trình này một phần được nhà nước hỗ trợ thông qua đầu tư cơ sở vật chất, đào tạo đội ngũ, một phần khác do người học chi trả thông qua học phí. Sinh viên trả học phí cao để theo học các chương trình chất lượng cao, đó là sự đầu tư tốt cho tương lai.

Các trường tự chịu trách nhiệm về giá trị văn bằng

Phóng viên: Thưa Thứ trưởng, mối quan hệ giữa quy mô và chất lượng đào tạo là bài toán khó giải mà các quốc gia đang phát triển thường phải đối mặt. Trong dự thảo Luật Giáo dục đại học, bài toán này được giải như thế nào?

Thứ trưởng Bùi Văn Ga: Chất luợng giáo dục đại học là một phổ rộng trong một hệ thống đa dạng các trường đại học bao gồm các đại học nghiên cứu, các đại học đa ngành hướng về kỹ thuật ứng dụng và các trường cao đẳng đào tạo kỹ thuật viên. Không thể đánh giá chính xác chất lượng sinh viên tốt nghiệp ở trường đại học nghiên cứu khi giao những việc mang tính ứng dụng hay ngược lại, không thể đánh giá đúng chất lượng sinh viên tốt nghiệp trường đại học ứng dụng khi giao công việc chuyên sâu về nghiên cứu cơ bản.

Nếu như Luật Giáo dục khẳng định giá trị pháp lý của bằng đại học là như nhau, không phân biệt loại hình trường và phương thức đào tạo thì trong dự thảo Luật Giáo dục đại học, giá trị của văn bằng được cụ thể hóa thông qua chất lượng của cơ sở đào tạo. Dự thảo Luật cho phép các cơ sở giáo dục đại học được in ấn phôi văn bằng, cấp văn bằng giáo dục đại học cho người học, chịu trách nhiệm về chất lượng đào tạo và giá trị văn bằng (điều 32). Xã hội và nhà sử dụng lao động đánh giá chất lượng đào tạo của nhà trường thông qua chất lượng sinh viên tốt nghiệp với văn bằng do trường cấp. Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định những điều kiện cần thiết để đảm bảo chất lượng tối thiểu của các cấp học.

Dự thảo Luật Giáo dục đại học cho phép các cơ sở giáo dục đại học được in ấn phôi văn bằng, cấp văn bằng giáo dục đại học cho người học, chịu trách nhiệm về chất lượng đào tạo và giá trị văn bằng.

Song song với việc phân tầng hệ thống các trường đại học, nhà nước khuyến khích xã hội hóa giáo dục để nhanh chóng mở rộng qui mô đào tạo, phục vụ nhu cầu học tập của người dân (điều 10) thông qua việc cho phép thành lập các trường đại học tư thục và trường đại học có vốn đầu tư nước ngoài.

Dù là loại hình trường nào đi nữa, các cơ sở giáo dục đại học đều bình đẳng trong hoạt động chuyên môn. Đầu tư cho đại học là loại hình đầu tư đặc thù, mang tính lâu dài, đem lại lợi ích cho xã hội, cho cộng đồng. Vì vậy dự thảo Luật đưa ra những điều khoản một mặt, đảm bảo quyền lợi của người học và mặt khác, đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư để khuyến khích tập thể, cá nhân đầu tư cho giáo dục.

Theo đó, Nhà nước miễn thuế đối với những khoản kinh phí mà nhà trường dùng để tái đầu tư phát triển giáo dục. Ngược lại, phần lợi nhuận phân chia cho người góp vốn sẽ phải chịu thuế theo quy định của pháp luật về thuế (điều 64). Như vậy trường hoạt động “vì lợi nhuận” hay “không vì lợi nhuận” phụ thuộc vào thực tế cơ cấu chi tiêu tài chính hằng năm của nhà trường chứ không phải dựa vào “tuyên bố” của nhà đầu tư. Nguyên tắc “hậu kiểm” này đảm bảo sự công bằng và cạnh tranh lành mạnh giữa các nhà đầu tư cho giáo dục, giúp cho chủ trương xã hội hóa giáo dục đại học đi theo đúng quy định của Luật giáo dục.

Giao quyền tự chủ theo năng lực từng trường

Phóng viên: Dự thảo Luật có đề ra những cơ chế, chính sách nhằm tăng cường quyền tự chủ cho các trường không?

Thứ trưởng Bùi Văn Ga: Cạnh tranh nâng cao chất lượng đào tạo của trường đại học là cạnh tranh lành mạnh. Các điều kiện đảm bảo chất lượng của các chương trình đào tạo cần được kiểm định và đánh giá bởi một tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục đại học độc lập. Các cơ sở giáo dục đại học có trách nhiệm xây dựng và triển khai kế hoạch bảo đảm chất lượng giáo dục đại học và công bố công khai các kết quả đánh giá và kiểm định chất lượng đào tạo để cho người học biết và giám sát những cam kết đảm bảo chất lượng của nhà trường.

Để các cơ sở giáo dục đại học cạnh tranh nâng cao chất lượng đào tạo, việc tăng cường quyền tự chủ cho các trường có ý nghĩa quan trọng. Trong bối cảnh hệ thống giáo dục đại học của nước ta hiện nay chưa đồng đều, vì vậy việc giao quyền tự chủ cho các trường trước mắt cần theo năng lực quản lý thực tế của từng trường.

Trong thực tế, các Đại học Quốc gia, các đại học vùng, các trường đại học trọng điểm đã được giao quyền tự chủ rất cao. Và mới đây Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã thí điểm giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cao với những cơ chế đặc thù cho Trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Số lượng các trường được giao quyền tự chủ sẽ tăng dần theo năng lực quản lý và chất lượng đào tạo của họ.

Điều 26 của dự thảo Luật nhấn mạnh “cơ sở giáo dục đại học được giao quyền tự chủ tương ứng với vị trí, vai trò, nhiệm vụ của cơ sở giáo dục đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân với điều kiện bảo đảm thực hiện quyền tự chủ, với cam kết trách nhiệm khi thực hiện tự chủ và với kết quả kiểm định chất lượng của cơ sở giáo dục đại học”.

Quyền tự chủ của cơ  sở giáo dục đại học thể hiện trên nhiều mặt hoạt động. Ngoài các quyền tự chủ về tổ chức nhân sự, tài chính, đào tạo, nghiên cứu khoa học… dự thảo Luật Giáo dục đại học còn nhấn mạnh đến tự chủ trong xác định chỉ tiêu tuyển sinh và tổ chức tuyển sinh (điều 28).

Việc giao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở giáo dục đại học là không đồng loạt, mà có lộ trình, đồng thời nếu cơ sở giáo dục đại học không còn đủ năng lực để thực hiện quyền tự chủ hoặc có hành vi vi phạm trong các hoạt động theo các quyền đã giao thì các quyền đã được giao bị thu hồi.

Từ Lương (thực hiện)

Từ Lương