(Chinhphu.vn) – Làng tre Phú An (Bình Dương) đã vượt lên làn sóng đô thị hóa để giữ lại cho đất nước ta, dân tộc ta hình ảnh quý giá của một ngôi làng xanh bóng tre, vốn là niềm tự hào của từng người dân nước Việt.

Ước muốn những ngôi làng xanh mát bóng tre trong thời đại công nghiệp hóa không hề là một ước muốn phi thực tế. Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể phủ nhận hiện nay ở rất nhiều làng quê Việt Nam đã thiếu vắng hẳn lũy tre xanh bao bọc, để trơ trọi ra những khu dân cư mở rộng nhưng lộn xộn và mất dần nét phong cách truyền thống.

Chính vì thế, ước muốn đó cũng chưa bao giờ vơi cạn trong lòng các nhà khoa học.

TS Diệp Thị Mỹ Hạnh. Ảnh: Chinhphu.vn

Cổng TTĐT Chính phủ trân trọng giới thiệu bài viết của GS. NGND Nguyễn Lân Dũng về dự án Làng tre Phú An, tỉnh Bình Dương do Tiến sỹ Diệp Thị Mỹ Hạnh chủ trì để hình dung rõ hơn về “ước muốn những ngôi làng xanh mát bóng tre”.

Gần đây qua các phương tiện thông tin đại chúng, tôi vô cùng xúc động khi thấy thông tin về công trình nghiên cứu nhiều năm của TS Diệp Thị Mỹ Hạnh và Giải thưởng Xích đạo 2010 của LHQ mà bà đã được trao thưởng tại New York.

Tôi cũng vô cùng tự hào về làng tre Phú An (Bình Dương), nơi mà TS Mỹ Hạnh đã dày công gắn bó và nơi này đã trở nên một địa chỉ danh tiếng sau Giải thưởng Xích đạo 2010 của bà.

Tôi thật cảm phục khi thấy hình ảnh người phụ nữ đôn hậu, mái tóc bạc trắng đã đi suốt dọc đất nước để sưu tầm được trên 100 mẫu tre và đã định tên khoa học được đến trên 60 loài.

Chúng ta biết rằng trong tộc tre (tribus Bambuseae) thuộc họ phụ tre (supertribus Bambusodae) có tới 91 chi (genus) và khoảng 1.000 loài (species) khác nhau. Tôi được biết bà Mỹ Hạnh đã nhận bằng Tiến sĩ chuyên ngành Kỹ thuật môi trường thuộc Đại học Paris 12 Val de Marne (Pháp), về nước từ năm 1975 và bắt đầu hoạt động nghiên cứu khoa học.

Từ năm 2000, bà là giảng viên của Trường Đại học Khoa học tự nhiên (ĐH Quốc gia TP.HCM) và từ năm 2003 bà là Chủ tịch dự án làng tre Phú An. Đây là một dự án được hình thành với sự hợp tác giữa bốn đơn vị là vùng Rhône Alpes, tỉnh Bình Dương, Vườn thiên nhiên Pilat và Trường ĐH Khoa học tự nhiên TP.HCM.  Năm 2009 bà đã được Chính phủ Pháp trao tặng Huân chương Cành cọ Hàn lâm.

Hoa tre. Ảnh của tác giả

Làng tre Phú An đã vượt lên làn sóng đô thị hóa để giữ lại cho đất nước ta, dân tộc ta hình ảnh quý giá của một ngôi làng xanh bóng tre, vốn là niềm tự hào của từng người dân nước Việt.

Ngày 7/4/2009, Khu bảo tàng sinh thái tre và bảo tồn thực vật Phú An được khánh thành và chính thức đưa vào sử dụng. Làng tre Phú An cách thị xã Thủ Dầu Một (Bình Dương) 12 km. Khu bảo tồn này đã có trên 1.500 bụi tre của 17 chi, với 300 mẫu tre khác nhau của Việt Nam, trong đó có nhiều loại tre quý hiếm như cây tép nứa, tre vuông, vàng sọc, mai, mạy muồi, luồng, vầu, trúc Cao Bằng, tre mét, hóp…

Bộ sưu tập tre ở đây được trồng theo từng khu vực: khu tre đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Bắc Bộ… Trên mỗi bụi được đánh dấu tên gọi địa phương, tên khoa học, tọa độ tìm thấy, thời gian và tên người sưu tập… để tiện cho việc nghiên cứu. Thường thì tre có thời gian nở hoa trong khoảng 5 - 60 năm một lần. Hoa tre có mùi hương hơi nồng và có màu vàng nhạt như màu đất. Tuy nhiên, theo TS Mỹ Hạnh thì cũng có những loài tre nở hoa hàng năm.

Đặt chân vào Làng tre Phú An, một cảm giác thư thái ùa đến. Tre kết vòm trên đầu che bớt cái nắng gay gắt của vùng miền Đông Nam Bộ. Chen lẫn những bụi tre là vườn cỏ xanh um, những đồi cỏ phủ đầy hoa đậu biếc với hoa vàng lá xanh giúp cho tâm hồn thêm thư thái. Các tảng đá ong, những hòn đá cuội to lớn nằm rải rác, được sắp đặt như hữu ý, như vô tình giúp cho du khách có chỗ ngồi nghỉ chân dưới tán tre lắng nghe chim hót.

Xa xa, ở “khu đồng bằng sông Cửu Long” sông nước với cầu tre lắt lẻo, với con đò nhỏ hững hờ cập bến, bên cạnh chiếc vó được cất lên… là sân khấu lộ thiên làm bằng đá ong để tối tối du khách có thể ngồi ngắm trăng sao, lắng nghe ếch nhái hòa thanh cũng lũ dế, vạc sành, như tìm về tuổi thơ…

Trước khi vào “mê cung tre”, du khách cũng sẽ ngạc nhiên với bản đồ Việt Nam khổng lồ bằng loài thực vật họ đậu phủ đất (Arachis pintoi). Mỗi “địa phương” trên bản đồ sẽ được tạo đồi núi, trồng các loại tre đặc trưng của từng vùng. Vùng “đồng bằng sông Cửu Long” là một thảm lá xanh hoa vàng được “khía rãnh”, cách điệu các nhánh chính của dòng Mekong đổ vào “biển Đông” bằng 9 cửa.

Sau khi ngắm mô hình bản đồ, du khách sẽ được hướng dẫn đi vào mê cung tre. Càng đi vào mê cung, du khách càng thích thú với nhiều giống tre lạ, quý hiếm. Sau đó, du khách còn được hướng dẫn đi tham quan đường sinh thái, đường làng mát rượi, ngắm dòng sông Rạch Chùa (một nhánh của sông Sài Gòn) hiền hòa uốn lượn.

Việc chăm sóc tre cũng khá quan trọng. Với khu đất 10 ha thì tưới tiêu phải tự động hoàn toàn. Các đường nước được kỹ sư cao cấp người Pháp Jacques Gurgand thiết kế rất tỉ mỉ và khoa học theo phương pháp tưới nhỏ giọt để tiết kiệm nước. Độ dài và đường kính của ống nước, các van khóa nước cũng được tính toán, đặt để hợp lý, sao cho ống tưới nhỏ giọt đến từng gốc tre thì chỉ là một ống nhựa màu đen nhỏ 3mm, khi tưới nước sẽ ngấm dần vào đất mà không phải chảy tràn ra một cách không cần thiết.

Làng tre Phú An

Ngôi nhà dưới bóng tre

Bao giờ phục hồi lại được các ngôi làng xanh bóng tre xanh là câu hỏi luôn thường trực trong tôi mà thật khó có câu trả lời. Việc mở rộng khu dân cư của mỗi làng là cần thiết nhưng sau khi nới rộng ra đến mức cần thiết thì phải trồng lại lũy tre làng như xưa. Lũy tre làng không chỉ bao bọc ngôi làng truyền thống mà còn bảo vệ đất và đem lại những nguồn lợi ích không nhỏ cho dân làng. Từng ngôi nhà trong làng cũng cần dành đất để trồng lại những khóm tre.

Ai cũng biết rằng tre mọc rất nhanh và có thể khai thác liên tục phục vụ các mục tiêu dân sinh. Tre được sử dụng làm nhà (cột, kèo), làm đũa, làm máng nước, làm rổ rá, vật dụng nông nghiệp (gầu, cán cuốc, cán xẻng). Măng tre được dùng làm thức ăn. Tre khô kể cả rễ có thể dùng làm củi đun. Lá tre dùng cùng một số lá khác là nguyên liệu của nồi nước xông khi bị cảm cúm…

Những nhà khoa học gắn bó với cây tre như TS Diệp Thị Mỹ Hạnh thật đáng nêu gương sáng đối với thế hệ các nhà khoa học trẻ. Chúng ta cần tiếp sức cho nhà khoa học đã cao niên này để tiếp tục cho thế giới biết được nước ta thực sự đang tồn tại bao nhiêu loài tre (với tên khoa học được thừa nhận) và phát huy được hết tác dụng của từng loài tre khác nhau.

GS. NGND Nguyễn Lân Dũng