(Chinhphu.vn) - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có văn bản trả lời kiến nghị của cử tri tỉnh Kiên Giang gửi tới Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XIII về giải pháp khắc phục khó khăn, tăng sức cạnh tranh, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững ngành chăn nuôi trong điều kiện hội nhập.

Theo ý kiến của cử tri tỉnh Kiên Giang, ngành chăn nuôi của nước ta là ngành lớn thứ hai trong nông nghiệp, tuy nhiên tính cạnh tranh kém, không bền vững và chịu tác động rất lớn khi Việt Nam ký kết các hiệp định thương mại tự do, nhất là Hiệp định TPP (vấp phải sự cạnh tranh rất mạnh của những nước có lợi thế lớn như Mỹ, Australia, Newzeland, nhất là khi hàng rào bảo hộ thuế quan bị dỡ bỏ).

Cử tri đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sớm có những giải pháp khắc phục hình thức chăn nuôi nhỏ lẻ, thiếu liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ, vấn đề dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, hạn chế tình trạng lệ thuộc quá lớn vào nước ngoài về con giống, thức ăn, thuốc phòng, chữa bệnh để góp phần tăng sức cạnh tranh, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững ngành chăn nuôi trong điều kiện nền kinh tế nước ta ngày càng hội nhập sâu rộng với kinh tế thế giới

Về vấn đề này, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trả lời cử tri tỉnh Kiên Giang như sau:

Theo kết quả điều tra của Tổng cục Thống kê tại báo cáo TĐT-NLTS năm 2011 cho thấy, trong số 4.131,6 ngàn hộ nuôi lợn thì số hộ nuôi quy mô nhỏ (dưới 10 lợn/hộ) chiếm tới 86,4% tổng số hộ, nhưng chỉ sản xuất 34,2% tổng sản lượng thịt lợn; về gia cầm, tổng số 7.864,7 ngàn hộ, số hộ nuôi quy mô  dưới 100 con gia cầm/hộ chiếm tới 89,62%, nhưng chỉ sản xuất 30% tổng sản lượng thịt gia cầm.

Theo số liệu ước tính, hiện nay cả nước còn khoảng 6-6,5 triệu hộ chăn nuôi, chỉ chiếm tỷ lệ tương đối về số đầu gia súc, gia cầm và sản lượng thịt hơi sản xuất cung cấp cho thị trường tiêu thụ nội địa.

Xu thế trong những năm gần đây, số hộ chăn nuôi quy mô nhỏ giảm dần nhưng cơ bản vẫn là phân tán, nhỏ lẻ, tận dụng và thiếu tính hệ thống, phát triển chăn nuôi chưa bền vững, giá trị gia tăng thấp. Sản phẩm chăn nuôi có sức cạnh tranh kém, giá thành cao trong khi đó sản xuất thiếu tính liên kết.

Ngoài ra, giá cả thị trường biến động làm cho chăn nuôi quy mô nhỏ, lẻ thường bấp bênh, dễ thua lỗ.

Trước tình hình hội nhập sâu rộng và nhất là khi TPP chính thức có hiệu lực, hàng triệu hộ chăn nuôi đối mặt với sức ép chuyển đổi, ngành chăn nuôi Việt Nam sẽ phải cạnh tranh với các nước trong khối, trong khu vực khi thuế nhập khẩu giảm và tiến tới về 0%, thị trường dịch vụ, đầu tư mở cửa nhanh và mạnh mẽ, trong khi đó hàng rào kỹ thuật chưa hoàn thiện hoặc không cao làm cho thị trường nội địa gặp bất lợi trong cạnh tranh.

Trước tình hình đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tăng cường triển khai các giải pháp thông qua các chính sách và công tác chỉ đạo sản xuất.

Về chính sách, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Thông tư số 15/2014/TT-BNNPTNT ngày 29/4/2014 hướng dẫn thực hiện một số điều tại Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg ngày 25/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn; đồng thời đang tiến hành rà soát, sửa đổi và mở rộng đối tượng áp dụng chính sách đối với các lĩnh vực trong đó có chăn nuôi.

Bộ cũng đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 50/2014/QĐ-TTg ngày 4/9/2014 về chính sách hỗ trợ nâng cao hiệu quả chăn nuôi nông hộ giai đoạn 2015-2020, sau đó Bộ đã ban hành Thông tư 09/2015/TT-BNNPTNT ngày 3/3/2015 hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Quyết định này.

Đồng thời, triển khai rà soát TCVN/QCVN lĩnh vực chăn nuôi để chỉ ra những bất cập, tồn tại từ đó khẩn trương hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, kỹ thuật phù hợp với tiêu chí, quy định mới trong thời kỳ hội nhập.

Về chỉ đạo sản xuất, tập trung chỉ đạo triển khai tái cơ cấu toàn diện ngành để thúc đẩy chăn nuôi theo hướng công nghiệp, hiện đại, phát triển bền vững; rà soát Đề án Tái cơ cấu ngành chăn nuôi và Kế hoạch hành động đến năm 2020 nhằm điều chỉnh quan điểm, định hướng mới, bổ sung một số nội dung phù hợp với thực trạng sản xuất và tình hình mới hiện nay.

Nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, tăng cường công tác quản lý giống vật nuôi; nghiên cứu, chọn lọc và lai tạo các giống trong nước với một số giống năng suất chất lượng cao nhập ngoại; củng cố và làm tốt khâu giống vật nuôi theo hệ thống giống 4 cấp.

Thay đổi nhận thức, đổi mới tư duy trong việc quản lý về giống, thức ăn chăn nuôi để nhận thấy được việc cần thiết phải sử dụng con giống có chất lượng tốt, thức ăn chăn nuôi có nguồn gốc và được kiểm soát về chất lượng; đầu tư mở rộng sản xuất, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới vào chăn nuôi.

Tổ chức lại sản xuất như việc xây dựng các hợp tác xã, tổ hợp tác, hội, hiệp hội… sản xuất theo chuỗi sản phẩm khép kín, tập trung từ khâu nguyên liệu đầu vào đến sản xuất, giết mổ, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, giảm đến mức thấp nhất khâu trung gian.

Xác định rõ đặc trưng, lợi thế cạnh tranh của từng chủng loại sản phẩm phù hợp với từng đơn vị, vùng miền để điều chỉnh, tập trung nguồn lực cho sản xuất, từng bước xây dựng các chuỗi giá trị sản xuất; triển khai các chương trình xây dựng và phát triển thương hiệu giống bản địa (bò H’Mông, lợn Móng Cái, gà đồi Tiên Yên, gà Đông Tảo, gà Hồ, gà Mía...).

Chinhphu.vn