(Chinhphu.vn) - Thêm 261 km đường cao tốc phía Nam được bổ sung vào quy hoạch mạng đường bộ cao tốc Việt Nam dựa trên sự cân đối kỹ lưỡng về điều kiện khu vực sẽ đảm bảo nhu cầu phát triển kinh tế giữa các vùng, miền trong cả nước.

Các chỉ tiêu về chiều dài cao tốc trên diện tích và tỉ lệ dân số ở các khu vực tương đối giống nhau. Ảnh minh hoạ.

Theo quy hoạch phát triển mạng đường bộ cao tốc Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 326 ngày 1/3/2016, gồm 31 tuyến với tổng chiều dài 6.411 km. Trong đó, hệ thống đường cao tốc khu vực phía Bắc dài 1.368 km. Hệ thống đường cao tốc khu vực phía Nam dài 983km; đường vành đai TP. Hà Nội và TPHCM dài 713 km,…

Vừa qua, trên cơ sở nghiên cứu, đề xuất của Tổng Công ty tư vấn Giao thông vận tải (TEDI – đơn vị chủ trì nghiên cứu lập quy hoạch mạng đường cao tốc), Bộ GTVT đã trình Thủ tướng Chính phủ bổ sung và điều chỉnh tiến độ đầu tư nhiều tuyến cao tốc trong quy hoạch.

Bổ sung 261 km cao tốc phía Nam vào quy hoạch

Cụ thể, đối với hệ thống đường cao tốc khu vực phía Bắc: Bổ sung tuyến cao tốc Hòa Bình - Sơn La - Điện Biên (370 km), đoạn Chợ Mới - TP Bắc Kạn (34 km), tuyến cao tốc nối Hà Giang với cao tốc Nội Bài - Lào Cai (81 km).

Hệ thống đường cao tốc khu vực miền Trung và Tây Nguyên: Bổ sung tuyến cao tốc từ Ngọc Hồi (Kon Tum) tới cửa khẩu Bờ Y (Kon Tum) dài 21 km. Hệ thống đường cao tốc khu vực miền Nam: Bổ sung tuyến cao tốc từ Gò Dầu (Tây Ninh) tới cửa khẩu Xa Mát (Tây Ninh) dài 65 km, tuyến Trung Lương - Bến Tre dài 50 km, Hồng Ngự - Trà Vinh (166 km), kéo dài tuyến cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng tới cảng Trần Đề, chiều dài khoảng 30 km.

Đồng thời, Bộ GTVT cũng kiến nghị Chính phủ điều chỉnh tiến trình đầu tư từ sau 2030 về trước năm 2030 đối với 4 tuyến cao tốc: Trà Lĩnh - Đồng Đăng, Sóc Trăng - Cần Thơ - Châu Đốc, Ninh Bình - Hải Phòng - Quảng Ninh, Hà Tiên - Rạch Giá - Cà Mau.

Ông Phạm Hữu Sơn, Tổng Giám đốc TEDI cho biết, sở dĩ cần thiết phải bổ sung và điều chỉnh một số tuyến cao tốc nhằm thực hiện các chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ cùng với đề nghị của địa phương, cũng như nhu cầu thực tế của các khu vực để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội.

Đại diện TEDI cũng khẳng định: “Mạng lưới đường bộ cao tốc trong quy hoạch đã được đánh giá, cân đối kỹ lưỡng về điều kiện khu vực, đảm bảo nhu cầu phát triển kinh tế giữa các vùng, miền”.

Tỉ lệ chiều dài cao tốc và dân số tương đồng giữa các vùng

Về nguồn vốn ngân sách Nhà nước (vốn ngân sách, vốn ODA) bố trí cho các dự án cao tốc đã và đang đầu tư trong cả nước, ông Phạm Hữu Sơn cho biết, số vốn này được phân bổ đồng đều giữa các vùng miền. Cụ thể, các dự án cao tốc khu vực miền Bắc đã được ngân sách Nhà nước hỗ trợ 74.400 tỷ đồng, khu vực miền Nam là 71.423 tỷ đồng.

Còn về các chỉ tiêu về chiều dài tuyến đường cao tốc trên diện tích đất (km/km2) và trên dân số (km/triệu dân) giữa khu vực phía Bắc và phía Nam đều tương đối giống nhau. Cụ thể, chiều dài đường cao tốc ở phía Bắc là 0,21 km/km2 và 65,25 km/triệu dân; phía Nam là 0,21 km/km2 và 52,96 km/triệu dân.

Con số này cũng được ông Trần Minh Phương, Vụ phó Vụ Kế hoạch đầu tư (Bộ GTVT) làm rõ hơn đó là tỷ lệ chiều dài đường cao tốc bình quân đầu người của các vùng: Đồng bằng Sông Hồng (0,037 km/1.000 người dân), ĐBSCL (0,035 km/1.000 người dân), khu vực miền Trung và Tây Nguyên (0,037 km/1.000 người dân) cơ bản tương đồng nhau.

“Theo định hướng quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đến năm 2030, toàn quốc phấn đấu có khoảng 4.928 km đường cao tốc được đầu tư. Trong đó, khu vực miền núi phía Bắc được đầu tư 801km, khu vực đồng bằng sông Hồng khoảng 874 km, khu vực miền Trung và Tây Nguyên là 1.126 km, khu vực Đông Nam Bộ khoảng 1.457 km, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long khoảng 670 km. Như vậy, đến năm 2030, khu vực phía Nam sẽ có hơn 2.000 km đường cao tốc được đầu tư xây dựng”, ông Trần Minh Phương nói.

Trả lời về việc trong khoảng 1.000 km đường cao tốc đang khai thác, phía Bắc chiếm gần 800 km nhưng Bộ GTVT tiếp tục điều chỉnh, sung thêm hàng loạt tuyến đường phía Bắc vào quy hoạch liệu tỉ lệ nói trên có “lệch pha”, ông Trần Minh Phương lý giải:

Đối với các tuyến cao tốc ở phía Bắc như: Hòa Bình - Sơn La - Điện Biên, Chợ Mới - TP Bắc Kạn, tuyến nối Hà Giang với cao tốc Nội Bài - Lào Cai, tại Quyết định 326/2016 của Thủ tướng Chính phủ ban hành về việc phê duyệt quy hoạch phát triển mạng đường bộ cao tốc Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 đã nêu rõ, trong quá trình triển khai thực hiện quy hoạch, căn cứ nhu cầu thực tế về nguồn lực, nhu cầu vận tải sẽ nghiên cứu thực hiện đầu tư một số tuyến cao tốc, trong đó ưu tiên các tuyến Hà Giang - Tuyên Quang, Lai Châu - Lào Cai, Hòa Bình - Sơn La - Điện Biên…

“Còn những nội dung trong quyết định điều chỉnh lần này, Bộ GTVT cũng chỉ làm rõ thêm về hướng tuyến, tiến độ, điểm đầu, điểm cuối và quy mô cụ thể để đảm bảo tính đồng bộ, kết nối mạng trong quy hoạch trước đây. Đồng thời, bổ sung, làm rõ vai trò của tuyến đường, nhu cầu vận tải, tính khả thi về huy động vốn… để làm rõ sự cần thiết và hiệu quả sơ bộ trong các tác động phát triển kinh tế-xã hội. Các nội dung này cũng sẽ được tiếp tục làm rõ hơn trong các bước tiếp theo”, ông Phương nói.

Điều chỉnh quy hoạch, linh hoạt cơ chế, thu hút nhà đầu tư

Đối với ý kiến cho rằng, do ngân sách khó khăn nên các nhà quản lý đang quy hoạch mạng lưới đường cao tốc theo nhu cầu của nhà đầu tư, ông Trần Minh Phương thừa nhận: ngoài việc xác định rõ mục tiêu dài hạn trong quy hoạch cao tốc, Nhà nước đang tạo điều kiện để phát huy ưu điểm của thị trường, nhất là trong điều kiện huy động vốn khó khăn như hiện nay.

Thế nhưng, với các dự án quan trọng, tác động lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội đất nước, trường hợp không không huy động được nguồn vốn tư nhân, Bộ GTVT sẽ báo cáo Chính phủ ưu tiên bố trí nguồn vốn ngân sách nhà nước đầu tư, hỗ trợ đầu tư và phối hợp với các địa phương để ưu tiên bố trí nguồn vốn thực hiện đầu tư.

Bằng chứng là trong thời gian qua, hàng loạt dự án quan trọng quốc gia đã được triển khai đầu tư không phải bằng nguồn vốn của tư nhân như: Cao tốc Bến Lức - Long Thành, cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi, cao tốc Cam Lộ - La Sơn…

Riêng đối với mạng lưới đường cao tốc khu vực Tây Nam bộ, tính cả sắp tới khi hai dự án Trung Lương - Mỹ Thuận và Mỹ Thuận - Cần Thơ hoàn thành xây dựng cũng chỉ có khoảng 150 km, ông Trần Minh Phương nhìn nhận: “Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long gặp nhiều điều kiện khó khăn khi huy động nguồn vốn đầu tư do kinh phí đầu tư thường cao hơn so với các vùng khác” bởi địa hình khó khăn, đi qua nhiều sông ngòi, khu vực sình lầy, nền đất yếu, điều kiện địa chất, địa hình, thủy văn phức tạp, nguồn vật liệu khan hiếm.

Đặc biệt, khu vực này có điều kiện thuận lợi cho vận tải thủy nên nhu cầu vận tải bằng đường bộ sẽ bị san sẻ lớn, giảm hấp dẫn phương án tài chính cho các dự án khi kêu gọi đầu tư bằng nguồn vốn tư nhân.

Trong quy hoạch mạng đường bộ cao tốc điều chỉnh lần này, ngoài các tuyến cao tốc đã có trong quy hoạch trước đây, Bộ GTVT đã bổ sung thêm khoảng 100 km cao tốc như: Hồng Ngự (Đồng Tháp) - Trà Vinh và kéo dài tuyến cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng tới cảng Trần Đề...Đồng thời, Bộ GTVT cũng điều chỉnh tiến trình đầu tư từ sau năm 2030 về trước năm 2030 đối với các tuyến cao tốc Sóc Trăng - Cần Thơ - Châu Đốc (dài 247 km), Hà Tiên - Rạch Giá - Cà Mau (dài 225 km).

“Hy vọng rằng với quy hoạch điều chỉnh được duyệt, thì mạng lưới đường bộ cao tốc tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long sẽ hoàn thiện hơn, nâng cao tính hấp dẫn khi thu hút đầu tư các tỉnh, thành trong khu vực”, ông Trần Minh Phương cho hay.

Phan Trang