(Chinhphu.vn) – Thúc đẩy hợp tác giữa các quốc gia phái cử; phát triển các kênh di cư hợp thức ít tốn kém tiền của, thời gian và ít phức tạp hơn; mở rộng tiếp cận pháp lý cho người lao động di cư… là những giải pháp Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) khuyến cáo để đảm bảo di cư lao động an toàn, hợp thức, đảm bảo quyền cho người lao động.

Giám chi phí các kênh di cư hợp thức sẽ tạo nhiều cơ hội giúp người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo con đường chính thống

Nghiên cứu giảm chi phí các kênh di cư hợp thức

Đại diện Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) tại Việt Nam khẳng định cam kết hỗ trợ việc quản trị vấn đề lao động di cư dựa trên quyền hợp pháp và chính đáng của người lao động.

Giám đốc ILO Việt Nam, Chang-Hee Lee, cho biết khi quyền của lao động di cư được tôn trọng, và hành trình di cư của họ được an toàn, bản thân họ, gia đình và cả xã hội có thể được hưởng lợi từ nguồn kiều hối gửi về cũng như nâng cao được kỹ năng tay nghề.

Trong khi di cư lao động không hợp thức là hiện tượng người dân di chuyển ngoài khuôn khổ pháp luật, quy định hoặc các hiệp định quốc tế liên quan tới việc nhập cảnh và xuất cảnh từ quốc gia xuất phát, quốc gia trung chuyển hoặc quốc gia điểm đến.   

“Di cư lao động không qua các kênh hợp thức khiến người lao động di cư có nguy cơ bị bóc lột lao động, hạn chế khả năng  tiếp cận hỗ trợ và công lý khi ở nước ngoài,” người đứng đầu ILO Việt Nam chia sẻ.

Một nghiên cứu gần đây của ILO và Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM) cho thấy, người lao động có rất ít khả năng kiểm soát sự thành công hay thất bại trong quá trình di cư, cho dù quyết định lựa chọn di cư của họ là theo kênh nào. Kết quả tích cực từ quá trình di cư đòi hỏi sự thay đổi về chính sách và thực tiễn từ những người có trách nhiệm – các chính phủ, người sử dụng lao động, các đơn vị tuyển dụng- hơn là hành vi của người lao động di cư. 

Nghiên cứu này cũng đã chỉ ra rằng người lao động Việt Nam đã phải trả chi phí cao nhất so với một số nước trong khu vực để đi làm việc ở nước ngoài. Lao động cũng phải vay mượn khoản tiền lớn nhất và làm việc trong khoảng thời gian lâu nhất – lên đến 11 tháng – để có thể chi trả khoản nợ này. Hơn ba phần tư lao động Việt Nam được phỏng vấn (77% lao động nam và 75% lao động nữ) trả lời rằng họ bị vi phạm quyền lao động khi làm việc ở nước ngoài.

6 giải pháp hỗ trợ lao động di cư

Chính phủ Việt Nam hiện đang xem xét sửa đổi pháp luật liên quan đến việc quản trị lao động di cư ra nước ngoài. Đây chính là cơ hội quan trọng để cải thiện khung pháp lý về di cư lao động và giúp các kênh di cư hợp thức trở nên hấp dẫn hơn đối với người dân.

Theo ông Chang-Hee Lee, ILO kêu gọi các chính phủ tăng cường nỗ lực để hỗ trợ người lao động di cư thông qua các giải pháp cụ thể.

Thứ nhất là, thúc đẩy hợp tác giữa các quốc gia phái cử, trung chuyển và tiếp nhận để tăng cường và đảm bảo những lựa chọn di cư hợp thức, đặc biệt là đối với lao động nữ, nhằm đảm bảo nhu cầu về việc làm thỏa đáng.

Thứ hai là, phát triển các kênh di cư hợp thức ít tốn kém tiền của, thời gian và ít phức tạp hơn.  Mặc dù di cư hợp thức có thể tăng khả năng đạt được kết quả tích cực và tạo ra lợi nhuận, nhưng lợi ích bị giảm đi rất nhiều bởi chi phí di cư hợp thức hiện quá cao và quy trình mất nhiều thời gian, khiến người dân có ý định di cư lựa chọn những con đường dễ tiếp cận hơn, bao gồm cả thông qua môi giới.

Thứ ba là, chuyển chi phí tuyển dụng từ người lao động sang người sử dụng lao động. Theo Các Nguyên tắc chung và hướng dẫn thực hiện  tuyển dụng công bằng của ILO, người lao động hoặc người tìm việc không  phải gánh bất kỳ phí tuyển dụng hoặc chi phí liên quan nào.

Thứ tư là, mở rộng tiếp cận pháp lý cho người lao động di cư, đặc biệc là lao động nữ vốn thường gặp nhiều khó khăn hơn nam giới, tại quê hương và ở nước ngoài. Khả năng người lao động di cư tiếp cận các cơ chế khiếu nại khi bị lạm dụng trong quá trình tuyển dụng và làm việc là yếu tố quan trọng để đảm bảo có các biện pháp khắc phục công bằng và đáp ứng yêu cầu.

Thứ năm là, chú trọng đào tạo kỹ năng nghề phù hợp với yêu cầu của người sử dụng lao động mà không tạo thêm gánh nặng về thời gian và tài chính đối với người lao động di cư. Điều này có lợi cho cả người sử dụng lao động và người di cư, góp phần tăng năng suất lao động, cải thiện tiền lương và điều kiện làm việc.

Cuối cùng là, mở rộng dịch vụ cho người lao động di cư và gia đình để hỗ trợ họ khi về nước và tái hòa nhập cộng đồng, nhằm đảm bảo rằng người lao động di cư có thể tái hòa nhập thành công cả về phương diện xã hội và kinh tế, không gặp khó khi tìm việc làm khi trở lại Việt Nam.

Thu Cúc