(Chinhphu.vn) - Nơi ấy hàng trăm năm trước đã có những tên đất, tên làng, còn đến ngày nay như Tân Sơn Nhất, Tân Sơn Nhì. Đến đầu thế kỷ XX, trên vùng đất cao của làng Tân Sơn Nhất có một sân bay được hình thành, lấy tên là sân bay Tân Sơn Nhất.

Quân giải phóng đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất
Sân bay ấy từ năm 1930 chính thức đi vào hoạt động và phát triển mở rộng cho dân dụng. Trong thời chiến tranh còn sử dụng cho cả mục đích quân sự.

Khi Mỹ leo thang chiến tranh Việt Nam, đã có một ủy ban hỗn hợp điều phối không vận được thành lập và đóng ngay tại phi trường, Tân Sơn Nhất từ đó chuyển dần thành căn cứ quân sự phục vụ đắc lực cho cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam.

Nơi đây không chỉ là sân bay hỗn hợp lớn nhất có đường băng kép hạng A tiếp nhận được máy bay phản lực, cũng như tất cả các loại máy bay hiện đại, mà còn có các cơ quan đầu não của bộ máy chiến tranh của Mỹ ở Nam Việt Nam (Bộ Tổng tham mưu, Trung tâm huấn luyện Quang Trung, Căn cứ pháo binh Cổ Loa, Căn cứ thiết giáp Phù Đổng, Yếu khu quân sự Ngã Năm, Trại Hoàng Hoa Thám...). Chính vì thế, trong Tết Mậu Thân 1968, căn cứ quân sự sân bay Tân Sơn Nhất là một trong 9 mục tiêu quan trọng của cuộc Tổng tấn công và nổi dậy.

"Lịch sử Nam Bộ kháng chiến" có ghi: “Mãi đến 2h15 sáng 31/1/1968, bộ phận phối thuộc Tiểu đoàn 268 Phân khu 2 ở phía tây sân bay Tân Sơn Nhất mới bắn 8 quả đạn cối 82 ly vào sân bay. Cả thành phố coi đó là hiệu lệnh tấn công” (trang 600); trên hướng Phân khu 2 “Cánh 1: Tiểu đoàn 16 đánh chiếm được 2 lô cốt án ngữ phía tây sân bay, tiến vào cách đường băng khoảng 400 mét thì bị  đẩy lùi (địch có 2 xe tăng M.48, một đại đội quân dù, trang 609).

Nơi đang tìm kiếm hài cốt các liệt sĩ là khu đất rộng khoảng 7,5 ha ở phía tây sân bay Tân Sơn Nhất (giáp đường Cộng Hòa). Ảnh: Báo Người lao động

Nhà báo quốc tế Don Oberdoifer có mặt tại chiến trường Tân Sơn Nhất năm 1968 viết: “Sân bay Tân Sơn Nhất bị bộ binh tấn công mãnh liệt đe dọa hàng trăm máy bay và trực thăng, trung tâm thông tin của Mỹ và trụ sở của Bộ Chỉ huy Mỹ và Tổng Tham mưu Việt Nam”. “Cuộc đụng độ cạnh cổng sân bay kéo dài suốt 24 giờ, mặc dù hai tiểu đoàn lính thuỷ đánh bộ Việt Nam được trực thăng chở  đến tiếp viện cuối buổi sáng hôm đó” (Tết, trang 54).

Sự chênh lệch về số lượng và chất lượng vũ khí, trang bị, hậu cần rất quan trọng, nhưng quyết định vẫn là con người sử dụng vật chất ấy, những người dám đánh, biết đánh. Một trận đánh không cân sức với kết thúc bi tráng về quân sự, nhưng vẫn làm nên một “Dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ” với hình ảnh người chiến sĩ Quân giải phóng “ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhất” nhưng vẫn “gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng” và “chết trong khi đang đứng bắn” làm cho kẻ thù “hốt hoảng xin hàng”, “sụp dưới chân anh tránh đạn” (thơ Lê Anh Xuân).

Tiến tới kỷ niệm 50 năm trận đánh có một không hai ấy, cũng trùng với dịp kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh-liệt sĩ, lại thêm phát hiện mới về nấm mộ các anh.

Người chiến sĩ còn lại của Tiểu đoàn 16 đánh vào Tân Sơn Nhất năm ấy là ông Vũ Chí Thành, kể: Đêm 31/1/1968, đơn vị ông đánh vào phía tây sân bay. Sau trận đánh, từ quân số 550 còn lại chưa tới 100… Ngoài lực lượng trợ chiến, trinh sát, biệt động thành, bộ đội địa phương, thì riêng 3 tiểu đoàn là 267, 269 và 16 có quân số tham gia trận đánh khoảng 1.500, đa phần hy sinh (Báo Thanh niên ngày 7/7/2017).

Người lính quân đội Mỹ là David Cave khi hết hạn quân dịch và rời chiến trường miền Nam, được ngồi trên máy bay trở về Mỹ đã chụp ảnh phi trường Tân Sơn Nhất ngay sau trận Mậu Thân 1968. Trong đó có 2 bức ảnh trắng đen về góc sân bay phía tây có tấm biển màu trắng. Cả 2 tấm biển ấy đều ghi dòng chữ tiếng Việt có nội dung gần giống nhau: “Nơi đây an nghỉ những chiến sĩ đêm mồng 1 Tết Mậu Thân. Linh thiêng xin các bạn hãy giúp cho xứ Việt Nam thân yêu của chúng ta mau thái bình” và “Nơi đây yên nghỉ các chiến sĩ tử trận ngày mùng hai Tết Mậu Thân năm 1968. Linh thiêng xin các bạn hãy giúp cho xứ Việt Nam thân yêu của chúng ta mau thái bình”.

Ông Nguyễn Xuân Thắng - người đang đi tìm cậu ruột là liệt sĩ, đã sưu tầm, thu thập tài liệu từ phía Mỹ và phát hiện: Đó là chỉ dẫn về ngôi mộ những người chiến sĩ Quân giải phóng hy sinh mùa Xuân Mậu Thân 1968 (Báo Tuổi trẻ).

Chuyên viên truyền tin của Không lực Việt Nam Cộng hòa năm 1968 là ông Lê Công Hoàng – người từng bị điều động vào sân bay để thu gom và chôn thi thể các chiến sĩ Quân giải phóng năm ấy kể lại: Giữa lúc súng nổ ầm ầm, hỗn loạn, ông đã trực tiếp tham gia chôn lấp 1 mộ, còn một mộ nữa cách khoảng 150 m (Báo thanh niên ngày 7/7/2017).

Tìm thấy nhiều di vật của các liệt sĩ. Ảnh: Báo Người lao động

Gần 50 năm sau trận đánh, địa hình địa vật đã có nhiều đổi thay trong hơn 40 năm kết thúc chiến tranh. Các anh vẫn nằm ở nơi đã có 182 đồng đội được đưa về Nghĩa trang liệt sĩ Thành phố từ năm 1995, vẫn “lặng im như bức tường đồng” và “không một tấm hình, không một dòng địa chỉ”...

Hành trình tìm hài cốt các anh bây giờ là công việc của nhiều cơ quan, đơn vị, nhiều tập thể và cá nhân, thân nhân với đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây”, “đền ơn đáp nghĩa”. Còn có nhiều cựu chiến binh từng là đồng đội các đơn vị tham gia trận đánh lịch sử bao năm đi tìm kiếm hài cốt liệt sĩ theo trách nhiệm, lương tâm và tình cảm, tìm được bất cứ liệt sĩ nào, cũng giống như tìm được người thân của mình vậy; lại có cả cựu binh Mỹ cùng cựu binh khác nữa từng “không ngờ cuộc chiến tranh kết thúc đã gần 50 năm nhưng vẫn còn rất nhiều hài cốt chưa được tìm thấy”.

Cuộc tìm kiếm bây giờ ngoài dụng cụ như xưa trên ba lô các anh đi chiến trường, còn có cả máy thăm dò, máy đào, máy xúc…; nhưng quyết định vẫn là những con người giàu ý chí và linh cảm của trái tim, mẫn cảm của đôi tay khi chạm tới xương cốt các anh trong bụi đất.

Các di vật của các anh có nắp dây nịt, ví da, ảnh và nhẫn nghi là vàng, hay dép râu và quần áo màu cỏ úa, cũng chỉ là vật dụng thông thường, bởi khi vào trận “Anh chẳng để lại gì cho anh trước lúc lên đường”.

Đất nơi hài cốt các anh nằm có màu đen và mịn khác thường, thì cũng vẫn là đất nơi đầu phía tây sân bay Tân Sơn Nhất, giữa 2 đường taxiway dẫn ra đường băng, bấy lâu nay máy bay ta và bạn, cất lên và đáp xuống, đi và về trong hành trình của đất nước đang phát triển và hội nhập.

Các anh đã góp tạo nên “Dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ” và đang cùng “Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân”.

Minh Minh Đức