(Chinhphu.vn) - Sáng 28/12, Cổng TTDDT Chính phủ tổ chức cuộc đối thoại trực tuyến với chủ đề: “Lao động, việc làm trong bối cảnh CMCN 4.0”.

Nhằm giúp các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, người lao động và người dân có thể hiểu hơn về các chính sách phát triển lao động đáp ứng CMCN 4.0, cũng như các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ tổ chức cuộc đối thoại trực tuyến Lao động, việc làm trong bối cảnh CMCN 4.0

Khách mời tham gia đối thoại: Ông Lê Quang Trung – Phó Cục trưởng Phụ trách Cục Việc làm, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội

Ông Lê Quang Trung. Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Dưới đây là nội dung Tọa đàm:

Chúng tôi xin được bắt đầu cuộc đối thoại bằng câu hỏi đầu tiên về thị trường lao động trong nước. Xin ông có thể chia sẻ về thực trạng về cung, cầu lao động của nước ta trong năm 2018?

Ông Lê Quang Trung: Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, thị trường lao động Việt Nam tiếp tục được phát triển theo hướng hiện đại hóa và định hướng thị trường; khuôn khổ luật pháp, thể chế, chính sách thị trường lao động từng bước được hoàn thiện.

Các kết quả trên thị trường lao động được cải thiện như chất lượng cung lao động tăng lên, cơ cấu cầu lao động chuyển dịch tích cực, thu nhập, tiền lương được cải thiện, năng suất lao động và tính cạnh tranh của lực lượng lao động tăng lên.

Nhờ triển khai thực hiện nhiều chính sách, cơ chế mới trong giải quyết việc làm và phát triển thị trường lao động, tính đến tháng 9/2018 tỉ lệ thất nghiệp khu vực thành thị  là 3,1% (đang đạt chỉ tiêu dưới 4% trong các nghị quyết phát triển kinh tế xã hội), góp phần giảm tỷ trọng lao động trong lĩnh vực nông-lâm-thủy sản từ 50% năm 2010 xuống còn 38,3%.

Tuy nhiên, thị trường lao động Việt Nam vẫn còn những hạn chế nhất định. Đó là, lao động chủ yếu làm việc trong khu vực nông nghiệp, khu vực phi kết cấu, năng suất thấp, về cơ bản Việt Nam vẫn là một thị trường dư thừa lao động trong nông nghiệp, nông thôn với chất lượng cung lao động thấp, phân bổ chưa hợp lý và khả năng di chuyển còn bị hạn chế;

Cầu lao động thấp về số lượng và vẫn còn một tỉ lệ lớn lao động làm việc trong các nghề giản đơn, không đòi hỏi chuyên môn kỹ thụât, khu vực làm công ăn lương phát triển chậm; tỉ lệ thiếu việc làm vẫn còn khá cao.

Hệ thống luật pháp về thị trường lao động chưa đầy đủ; cơ sở hạ tầng của thị trường lao động chưa phát triển đồng bộ dẫn đến khả năng kết nối cung cầu lao động kém; có sự mất cân đối cung cầu lao động cục bộ, mặc dù thiếu việc làm chiếm tỉ lệ lớn, nhưng một số ngành nghề, địa phương... không tuyển được lao động.

Hệ thống giáo dục, hướng nghiệp và đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động, đặc biệt là đối với lao động yêu cầu kỹ năng cao; một bộ phận lớn người lao động chưa được bảo vệ trong thị trường.

Theo báo cáo của Bộ LĐTB&XH, số lao động có việc làm trong nước luôn tăng hằng năm, tuy nhiên chất lượng việc làm vẫn là những hạn chế của thị trường lao động Việt Nam, với khoảng 18,9 triệu lao động phi chính thức. Theo ông giải pháp nào để cải thiện vấn đề này?

Ông Lê Quang Trung: Hiện nay, cả nước có trên 54 triệu lao động có việc làm, tỉ lệ thất nghiệp duy trì ở mức thấp, tỉ lệ thiếu việc làm không cao.

Chất lượng việc làm còn hạn chế thể hiện ở năng suất lao động thấp, tỉ lệ người lao động làm việc ở khu vực dễ bị tổn thương cao (56,5% lao động có việc làm phi chính thức ngoài hộ nông, lâm nghiệp, thủy sản), thu nhập từ việc làm thấp, một tỉ lệ lớn người làm việc không tiếp cận được các chính sách BHXH, BHTN và các chính sách về ATVSLĐ (khoảng 29% LLLĐ trong độ tuổi tham gia BHXH bắt buộc). Chất lượng của việc làm còn thấp do nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là do cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động chuyển dịch chậm, một bộ phận lớn lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp (38,5%) hoặc khu vực dễ tổn thương (khoảng 59%). Đây là nơi tạo ra giá trị gia tăng thấp, thu nhập không ổn định, việc làm thiếu bền vững và cũng là khu vực mà pháp luật về lao động, việc làm và an sinh xã hội như kinh nghiệm các nước là khó vươn tới được đầy đủ.

Hiện nay, cả nước có gần 600.000 doanh nghiệp, hơn 90% là doanh nghiệp nhỏ và vừa, khoảng 96% doanh nghiệp sử dụng dưới 30 lao động, 88% sử dụng dưới 10 lao động. Quy mô doanh nghiệp quá nhỏ, thậm chí là li ti thì chắc chắn năng lực của doanh nghiệp còn hạn chế, năng suất lao động, thu nhập và tiền lương của người lao động khó có thể cao, việc làm khó có thể bền vũng.

Với trách nhiệm của mình, Bộ LĐTB&XH đã, đang và sẽ thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

- Tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách về lao động, việc làm, tiền lương, bảo hiểm xã hội góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại; mở rộng phạm vi bao phủ của các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, an toàn, vệ sinh lao động sang khu vực phi chính thức.

- Gắn đào tạo với việc làm, nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp. Tạo bước đột phá trong giáo dục nghề nghiệp nhằm tạo chuyển biến rõ nét, thực chất về chất lượng, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động và doanh nghiệp, hỗ trợ người lao động hoặc là làm việc cho doanh nghiệp, hoặc là với kiến thức, kỹ năng nghề được trang bị có thể tự chuyển đổi việc làm hiện tại sang việc làm có chất lượng tốt hơn.

- Hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường lao động, tập trung nâng cao chất lượng phân tích, dự báo thị trường lao động, cung cấp cơ sở cho kế hoạch hóa đào tạo phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp và nhu cầu tìm kiếm hoặc tự tạo việc làm của người lao động.

- Nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống Trung tâm dịch vụ việc làm trong kết nối cung-cầu lao động, không chỉ tư vấn, giới thiệu việc làm cho người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp mà cả lao động tự do, thanh niên mới tham gia thị trường lao động.

- Thực hiện hiệu quả các chương trình, chính sách hỗ trợ việc làm, nhất là đối với các đối tượng yếu thế như vay vốn tạo việc làm qua Quỹ quốc gia về việc làm, thực hiện chính sách việc làm công, đẩy mạnh xuất khẩu lao động nhằm chuyển đổi và nâng cao chất lượng việc làm.

Chúng ta đang ở thời điểm cuối của năm 2018, xin ông cho biết đánh giá của mình về bức tranh thị trường lao động của Việt Nam trong năm vừa qua? Đâu là những điểm sáng và đâu là những điểm hạn chế cần khắc phục trong năm tới?

Ông Lê Quang Trung: Nhìn chung, trong bức tranh việc làm nước ta thời gian qua có nhiều điểm sáng, tích cực như:

- Quy mô lực lượng lao động lớn (55,4 triệu người tại Quý 3/2018), tỷ lệ tham gia lực lượng lao động lớn (76%), lao động thanh niên chiếm tỷ lệ lớn (khoảng 28%) đem lại nguồn cung dồi dào cho phát triển sản xuất; Chất lượng lao động ngày càng được cải thiện với 56,1% (năm 2017)  lực lượng lao động đã qua đào tạo, dự kiến năm 2018 là 58,6%;

- Cơ cấu lao động tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực (năm 2015 có 42,6% lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, đến tháng 9/2018 giảm còn 38,3%); tỉ lệ lao động làm việc trong khu vực phi kết cấu, làm các công việc dễ bị tổn thương giảm tương ứng từ 67% xuống còn 56,2%;

- Tỉ lệ thất nghiệp duy trì ở mức thấp, chung của cả nước là khoảng 2%, của khu vực đô thị là dưới 4%. Tỉ lệ thiếu việc làm cũng ở mức thấp, khoảng 1,4-1,5%;

- Pháp luật về lao động, việc làm, tiền lương, bảo hiểm xã hội, an toàn vệ sinh lao động được ban hành đồng bộ và triển khai thực hiện có hiệu quả.

Tuy nhiên cũng tồn tại nhiều thách thức, hạn chế, cụ thể:

- Chất lượng việc làm còn hạn chế thể hiện ở năng suất lao động thấp, tỉ lệ người lao động làm việc ở khu vực dễ bị tổn thương cao (56,2% người làm việc ở khu vực phi chính thức); khu vực doanh nghiệp phần lớn là có quy mô nhỏ (96% doanh nghiệp là nhỏ và vừa), tính ổn định của việc làm không cao; tiền lương và thu nhập từ việc làm chậm được cải thiện;

- Chuyển dịch cơ cấu lao động từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, từ khu vực phi chính thức sang khu vực chính thức chậm dẫn đến chậm cải thiện chất lượng việc làm.

- Tỉ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ còn thấp, chỉ khoảng 21,85% tại quý II/2018; chất lượng lao động và năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực thấp; thể lực, sức bền, ý thức, tác phong công nghiệp của phần lớn người lao động không được đánh giá cao.

- Tỉ lệ thất nghiệp của lao động thanh niên còn cao, khoảng 7% - gấp 3 lần tỉ lệ thất nghiệp chung. Số lượng sinh viên mới tốt nghiệp các trường cao đẳng, đại học thất nghiệp cao - thường xuyên khoảng 200.000 người. Lao động trung niên và lớn tuổi trong các doanh nghiệp có nguy cơ bị sa thải lớn.

- Pháp luật về lao động, việc làm, tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và an toàn, vệ sinh lao động vẫn chưa vươn tới được một bộ phận lớn của lực lượng lao động (chính sách tiền lương chỉ bao phủ được bộ phận lao động có quan hệ lao động - khoảng 40%, hiện mới có khoảng 27% lực lượng lao động tham gia BHXH bắt buộc).

- Sức ép việc làm, nhất là việc làm bền vững lớn;

Để khắc phục những điểm tối của bức tranh việc làm, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đã và đang tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp:

- Nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống chính sách về lao động, việc làm, tiền lương, bảo hiểm xã hội nhằm hỗ trợ quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động, chuyển lao động từ khu vực công nghiệp sang công nghiệp dịch vụ, lao động khu vực phi chính thức sang khu vực chính thức để cải thiện chất lượng việc làm. Hỗ trợ doanh nghiệp duy trì sản xuất kinh doanh, duy trì việc làm, hạn chế sa thải lao động, tuyển dụng lao động thất nghiệp dài hạn khó tìm việc làm theo tinh thần Nghị quyết 27/NQ-TW về cải cách chính sách tiền lương, Nghị quyết 28/NQ-TW về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội của Hội nghị Trung ương 7 khóa 12 vừa qua.

- Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục nghề nghiệp, tạo bước chuyển biến rõ nét, thực chất về chất lượng, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động, doanh nghiệp và nhu cầu chuyển đổi việc làm của người lao động. Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội xác định năm 2018 là năm đột phá về giáo dục nghề nghiệp;

- Hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường lao động; nâng cao chất lượng phân tích, dự báo cung-cầu lao động làm cơ sở định hướng nghề nghiệp, giúp người lao động chọn nghề để học, chọn việc để làm phù hợp với nhu cầu của thị trường và của xã hội;

- Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của hệ thống Trung tâm dịch vụ việc làm trong tư vấn chính sách, tư vấn giới thiệu việc làm, kết nối cung-cầu lao động, giúp người lao động chọn được công việc phù hợp với năng lực, giúp doanh nghiệp tuyển dụng được người phù hợp với yêu cầu, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực;

- Triển khai hiệu quả các chương trình, đề án, chính sách hỗ trợ tạo việc làm cho người lao động, nhất là nhóm yếu thế nhằm phát huy tối đa năng lực của các nhóm đối tượng này.

Giải quyết việc làm cho người lao động là một trong những mục tiêu chính của các chính sách phát triển kinh tế-xã hội, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển có lực lượng lao động lớn như Việt Nam . Xin ông cho biết trong thời gian tới những ưu tiên nào sẽ được thực hiện trong vấn đề giải quyết việc làm?

Ông Lê Quang Trung: Giải quyết việc làm cho người lao động là một trong những ưu tiên hàng đầu của các quốc gia trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội, góp phần thực hiện tiến bộ, công bằng và đảm bảo an sinh xã hội.

Theo đánh giá của các chuyên gia, các tổ chức quốc tế, vấn đề thất nghiệp và thiếu việc làm không phải vấn đề lớn mà quan trọng hơn là cần khắc phục những hạn chế về chất lượng việc làm và tính dễ tổn thương việc làm của lao động Việt Nam. Như vậy, ưu tiên hàng đầu là nâng cao chất lượng việc làm và khắc phục tính dễ tổn thương của việc làm.

Bên cạnh việc tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách trong lĩnh vực lao động, việc làm, chỉ đạo, hướng dẫn nâng cao hiệu quả trong tổ chức thực hiện chính sách, thời gian tới, Bộ sẽ tập trung thực hiện các giải pháp quyết liệt, mạnh mẽ, bao gồm:

- Tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách về lao động, việc làm, tiền lương, bảo hiểm xã hội góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại; mở rộng phạm vi bao phủ của các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, an toàn, vệ sinh lao động sang khu vực phi chính thức nhằm khắc phục tính dễ tổn thương của việc làm.

- Gắn đào tạo với việc làm, nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp.  Tạo bước đột phá trong giáo dục nghề nghiệp nhằm chuyển biến rõ nét, thực chất về chất lượng, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động và doanh nghiệp, hỗ trợ người lao động hoặc là làm việc cho doanh nghiệp, hoặc là với kiến thức, kỹ năng nghề được trang bị có thể tự chuyển đổi việc làm hiện tại sang việc làm có chất lượng tốt hơn.

- Nâng cao chất lượng phân tích, dự báo thị trường lao động, cung cấp cơ sở cho kế hoạch hóa đào tạo phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp và nhu cầu tìm kiếm hoặc tự tạo việc làm của người lao động để giảm tình trạng thất nghiệp trong lao động thanh niên và sinh viên tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng, rút ngắn thời gian thất nghiệp và tìm việc của nhóm đối tượng này.

- Quan tâm nâng cao chất lượng việc làm và cải thiện thu nhập của lao động khu vực nông thôn, khu vực phi chính thức, của các nhóm lao động yếu thế thông qua triển khai có hiệu quả đề án đào tạo cho lao động nông thôn, chuyển dịch mạnh mẽ lao động khu vực phi chính thức sang khu vực chính thức, các đề án, chính sách hỗ trợ việc làm, xuất khẩu lao động.

- Quan tâm thích đáng đến các nhóm lao động có nguy cơ mất việc làm cao thông qua sửa đổi, hoàn thiện các chính sách về việc làm, bảo hiểm thất nghiệp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và người lao động duy trì việc làm, hạn chế sa thải lao động, thu hút và sử dụng lao động thất nghiệp dài hạn khó tìm việc làm. Chính sách bảo hiểm thất nghiệp được sửa đổi theo hướng không chỉ chú ý đến các giải pháp khắc phục hậu quả thông qua chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ đào tạo đáp ứng yêu cầu của công việc mới mà quan tâm thỏa đáng đến các giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu tình trạng thất nghiệp thông qua hỗ trợ doanh nghiệp duy trì sản xuất, duy trì việc làm, tránh sa thải người lao động.

Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới, các chính sách thu hút đầu tư nước ngoài kéo theo các vấn đề về quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Trong thời gian qua, được Bộ LĐTB&XH giao phụ trách lĩnh vực này, xin ông chia sẻ những giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam?

Ông Lê Quang Trung: Hiện nay, công tác quản lý lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam đã được quy định tương đối chặt chẽ tại các văn bản quy phạm pháp luật. Theo quy định của pháp luật thì người nước ngoài làm việc tại Việt Nam phải có giấy phép lao động do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp và phải xuất trình giấy phép lao động khi làm các thủ tục liên quan đến xuất cảnh, nhập cảnh và xuất trình theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trừ một số trường hợp không phải làm thủ tục cấp giấy phép lao động và không phải làm thủ tục xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động theo quy định.

Trong thời gian qua, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội thường xuyên hoàn thiện các quy định của pháp luật, ban hành các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo các địa phương để tăng cường công tác quản lý nhất là quản lý lao động làm việc cho các nhà thầu, cụ thể: Bộ đã ban hành công văn số 101/LĐTBXH-VL ngày 18/6/2018 gửi các địa phương về việc tăng cường quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam; Bộ đang hoàn thiện để trình Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung các Nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh và thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ; phối hợp với các bộ, ngành liên quan tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra tình hình lao động nước ngoài và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.

Nhằm tăng cường quản lý chặt chẽ hơn nữa lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội sẽ tiếp tục tập trung triển khai thực hiện các giải pháp sau:

(1) Hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản lý lao động nước ngoài hướng tới mục tiêu tăng cường công tác quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và phù hợp với tình hình thực tế.

(2) Đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn và phổ biến các quy định pháp luật Việt Nam liên quan đến lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam với nhiều hình thức phù hợp, thiết thực.

(3) Rà soát, hoàn thiện quy chế phối hợp giữa các cơ quan trong việc chia sẻ thông tin và quản lý tốt lao động nước ngoài.

(4) Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các trường hợp cố tình vi phạm pháp luật Việt Nam liên quan đến người lao động nước ngoài đặc biệt đối với nguoài lao động nước ngoài làm việc trong các nhà thầu.

(5) Chủ động xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu nhân lực của địa phương; tăng cường công tác đào tạo, huấn luyện kỹ năng, ý thức thái độ và tác phong làm việc của người lao động Việt Nam, tạo nguồn giới thiệu, cung ứng lao động cho các doanh nghiệp, nhà thầu.

(6) Tiếp tục chỉ đạo các địa phương:

+ Công khai việc tuyển lao động Việt Nam vào các vị trí dự kiến tuyển lao động nước ngoài;

+ Chủ động xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực gắn với chương trình kinh tế xã hội của từng địa phương để đáp ứng nhu cầu về lao động ở địa phương, đặc biệt là nhu cầu của các nhà thầu nước ngoài nhằm hạn chế sử dụng người nước ngoài;

+ Tổ chức giới thiệu, cung ứng lao động Việt Nam cho nhà thầu nước ngoài;

+ Phổ biến, hướng dẫn doanh nghiệp, tổ chức và nhà thầu thực hiện đúng pháp luật lao động. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về lao động nước ngoài tại các doanh nghiệp, nhà thầu; kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm những vi phạm.

Xin ông cho biết định hướng tại dự thảo Bộ luật Lao động sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động năm 2018 về quản lý lao động nói chung và quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam nói riêng?

Ông Lê Quang Trung: Định hướng của Bộ luật Lao động sửa đổi, bổ sung trong thời gian tới nhằm giải quyết những vướng mắc và bất cập, thể chế hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 và đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật; hỗ trợ và tạo điều kiện cho doanh nghiệp; giảm bớt thủ tục hành chính; sửa đổi, bổ sung các điều để phù hợp hơn với các công ước quốc tế và các hiệp định và Việt Nam là thành viên như CPTPP.

Đối với nội dung về tuyển và quản lý lao động dự thảo Bộ luật Lao động tập trung vào các nội dung sau:

- Đối với quản lý lao động: Bổ sung quy định về người sử dụng lao động phải trả mọi chi phí về tuyển dụng lao động; người sử dụng lao động phải lập, cập nhật sổ quản lý lao động (có thể bằng giấy hoặt bản điện tử) và xuất trình khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu; giao Chính phủ quy định về khai trình điện tử và xây dựng cơ sở dữ liệu về quản lý lao động;

- Đối với nội dung quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam: Quy định điều kiện lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam phải có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm làm việc, sức khỏe, không vi phạm pháp luật của Việt Nam và nước ngoài…  Quy định nhà thầu trước khi tuyển và sử dụng lao động nước ngoài phải kê khai cụ thể các vị trí công việc, trình độ chuyên môn kỹ thuật, kinh nghiệm làm việc cần sử dụng lao động nước ngoài để thực hiện gói thầu và được sự chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quy định rõ đối với người lao động nước ngoài không được ký hợp đồng thử việc. Bổ sung một số trường hợp vào Việt Nam làm việc không thuộc diện cấp giấy phép lao động. Quy định cụ thể mức góp vốn đối thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn không thuộc diện cấp giấy phép lao động. Quy định về thời hạn của giấy phép lao động là không quá 02 năm và chỉ được gia hạn 1 lần và thời hạn không quá 02 năm, trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định.

Chính sách bảo hiểm thất nghiệp đã được triển khai 10 năm, xin ông chia sẻ một vài thành tựu đạt được đến thời điểm hiện nay?

Ông Lê Quang Trung: Chính sách bảo hiểm thất nghiệp là một trong các chính sách quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội, với mục tiêu hỗ trợ người lao động bảo vệ vị trí việc làm, duy trì việc làm, phòng tránh thất nghiệp.

 Bên cạnh đó, nếu gặp rủi ro về việc làm, chính sách bảo hiểm thất nghiệp có các biện pháp nhằm thay thế, bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi thất nghiệp, quan trọng hơn nữa là có các biện pháp để hỗ trợ người lao động tham gia học nghề để nâng cao trình độ kỹ năng nghề hoặc chuyển đổi nghề nghiệp; tư vấn, giới thiệu việc làm để  người thất nghiệp nhanh chóng tìm được việc làm mới, đồng thời, người thất nghiệp còn được hưởng chế độ bảo hiểm y tế, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị-xã hội.

Trong gần 10 năm qua, nhất là sau khi chính sách bảo hiểm thất nghiệp được thực hiện theo Luật Việc làm, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đã trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và ban hành theo thẩm quyền hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đầy đủ, đồng bộ, kịp thời tạo điều kiện thuận lợi trong tổ chức, thực hiện. Công tác triển khai được thực hiện đồng bộ, kịp thời và có sự phối hợp tốt giữa các ngành lao động-thương binh và xã hội, bảo hiểm xã hội, tài chính, nội vụ và các tổ chức đại diện cho người lao động, người sử dụng lao động,... trong việc tập huấn, đào tạo cán bộ, hướng dẫn thực hiện, chia sẻ thông tin, thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vướng mắc trong thực tế phát sinh.

Với những nỗ lực của các cơ quan, ban, ngành, công tác thực hiện bảo hiểm thất nghiệp đã đạt được nhiều kết quả khả quan, cụ thể như sau:

(1) Chính sách bảo hiểm thất nghiệp thực sự hỗ trợ doanh nghiệp và người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động trong việc giải quyết chế độ chính sách đối với người lao động, doanh nghiệp không bị áp lực về tài chính vì không phải chi trả trợ cấp thôi việc, mất việc làm cho người lao động nhưng quyền lợi người lao động được đảm bảo khi gặp rủi ro về việc làm thông qua việc nhận các chế độ bảo hiểm thất nghiệp.

(2) Chính sách bảo hiểm thất nghiệp đã thực sự thể hiện nguyên tắc “đóng - hưởng”, nguyên tắc chia sẻ, hỗ trợ lẫn nhau trong cộng đồng doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ; chia sẻ hỗ trợ lẫn nhau trong cộng đồng người lao động, giữa người có nguy cơ mất việc làm thấp với với người có nguy cơ mất việc làm cao, qua đó thúc đẩy gắn kết xã hội.

(3) Số lượng đối tượng tham gia và quy mô Qũy bảo hiểm thất nghiệp gia tăng nhanh chóng, số lượng đối tượng thụ hưởng chính sách bảo hiểm thất nghiệp ngày càng tăng, dịch vụ hỗ trợ người thất nghiệp ngày càng đa dạng, linh hoạt, thực sự hỗ trợ người lao động khi mất việc làm.

Nếu năm 2009 mới chỉ có 5,9 triệu người tham gia bảo hiểm thất nghiệp thì đến hết tháng 9/2018, cả nước có 11,9 triệu người tham gia bảo hiểm thất nghiệp, chiếm 20,5% lực lượng lao động cả nước;

Người thất nghiệp đến trung tâm dịch vụ việc làm đều được tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí; hơn 4 triệu người được hưởng trợ cấp thất nghiệp và hỗ trợ học nghề cho gần 160 nghìn người.

Theo báo cáo của Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, tính đến cuối năm 2017, kết dư Quỹ bảo hiểm thất nghiệp là 67.320 tỷ đồng, dự báo đến năm 2020, Quỹ bảo hiểm thất nghiệp vẫn đảm bảo an toàn.

Có thể nói đây là chính sách sớm đi vào cuộc sống và có hiệu quả, được dư luận xã hội, doanh nghiệp, người lao động tích cực hưởng ứng, tham gia và đánh giá cao, góp phần ổn định đời sống và hỗ trợ thiết thực cho người sử dụng lao động, người lao động trong việc học nghề và tìm việc làm, sớm đưa họ trở lại làm việc.

Vừa qua, tại Hội nghị Lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khóa XII đã ban hành hai Nghị quyết quan trọng là Nghị quyết số 27 về Cải cách cách chính sách tiền lương  đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp và Nghị quyết số 28 về Cải cách chính sách bảo hiểm xã hội. Xin ông cho biết những nội dung cơ bản về cải cách chính sách bảo hiểm thất nghiệp tại Nghị quyết số 28-NQ/TW đã được Hội nghị lần thứ bẩy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII thông qua ngày 23/05/2018 về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội?

Ông Lê Quang Trung: Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/05/2018 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội (sau đây viết tắt là Nghị quyết số 28-NQ/TW) trong đó có nội dung là cải cách và hoàn thiện phát triển chính sách bảo hiểm thất nghiệp (BHTN). Đây là một Nghị quyết rất quan trọng, đáp ứng được nhu cầu và đúng với xu hướng phát triển của chính sách BHTN hiện tại và trong tương lai.

Trong Nghị quyết nêu rất rõ những việc cần triển khai, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 125 về vấn đề này. Về việc thực hiển triển khai 2 Nghị quyết, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội là cơ quan được giúp Chính phủ về BHTN, chúng tôi xin điểm qua những vấn đề:

Thứ nhất, chúng tôi sẽ thực hiện hai Nghị quyết, nghiên cứu, đánh giá, tổng kết Luật Việc làm để năm 2021, 2022 sẽ trình Quốc hội thông qua Luật Việc làm, trong đó có nội dung về BHTN.

Thứ hai, tăng cường các hoạt động về truyền thông, thông tin về BHTN. Thời gian vừa qua Bộ LĐTB&XH đã tổ chức rất nhiều hình thức như ấn phẩm, hội nghị tuyên truyền, hội nghị đối thoại với các doanh nghiệp, các cơ quan tổ chức ở địa phương về vấn đề này.

Thứ ba, sửa đổi bổ dung các nội dung trong BHTN, cụ thể như đối tượng tham gia BHTN để làm sao đồng nhất với đối tượng BHXH. Quan trọng hơn là các chính sách, biện pháp để duy trì vấn đề việc làm, hỗ trợ cho các doanh nghiệp gặp khó khăn, tránh việc sa thải lao động.

Bộ LĐTB&XH đã khảo sát, nghiên cứu để có các giải pháp trong quá trình hoàn thiện chính sách này, hỗ trợ cho người sử dụng lao động trong bối cảnh khó khăn trong những doanh nghiệp đặc thù, có tính chất thời vụ, hỗ trợ cho một số ngành nghề dễ rơi vào cắt giảm lao động. Đồng thời tăng cường hơn các hoạt độngt hông tin về thị trường lao động cho người lao động. Làm sao cho chính sách này thực sự chuyển đổi sang bảo hiểm việc làm với đúng nghĩa của nó.

Bên cạnh đó, Nghị quyết đã chỉ rõ và yêu cầu là hoàn thiện các quy định liên quan đến thể chế, nâng cao năng lực hoạt động của các trung tâm dịch vụ việc làm, nâng cao hoạt động để hỗ trợ hơn nữa cho doanh nghiệp, người lao động. Đồng thời quy định rõ những chi phí cho việc hoạt động thực hiện BHTN, được lấy từ quỹ BHTN và không lấy từ ngân sách nhà nước. Chính vì vậy các trung tâm dịch vụ việc làm và hệ thống BHTN cần phải được chuyển đổi theo hướng Nghị quyết đã quy định.

Vừa rồi như ông có chia sẻ, trong vấn đề Luật Lao động đối với quản lý người lao động nước ngoài, chúng ta chỉ tiếp nhận những lao động mà Việt Nam chưa có thể đáp ứng được. Chúng ta đang hội nhập sâu rộng và đón đầu với cuộc CMCN 4.0. Vậy chúng ta có những định hướng như thế nào cho nhân lực lao động trong nước để có thể tiếp cận với cuộc CMCN 4.0, cũng như giảm thiểu chúng ta sử dụng lao động nước ngoài như vậy thưa ông?

Ông Lê Quang Trung: Đối với lao động nước ngoài chúng ta đánh giá rất cao. Đối với những vị trí, tính chất công việc mà Việt Nam chưa đáp ứng được thì chúng ta rất mong muốn người lao động nước ngoài có thể khắc phục được sự thiếu hụt về nhân lực. Thiếu hụt nhân lực là việc rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Chính vì vậy, việc đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng nhân lực của quốc gia là vấn đề hết sức quan trọng của các doanh nghiệp, là yếu tố đầu vào quyết định thành công của doanh nghiệp.

Trong bối cảnh CMCN 4.0, chúng tôi mong muốn người lao động nhận thức rất rõ vấn đề thị trường lao động, xu hướng phát triển của thị trường lao động. Đồng thời tận dụng điều kiện của bản thân, của cơ chế chính sách để tham gia vào quá trình đào tạo. Không chỉ đào tạo về chuyên môn kỹ thuật mà còn đào tạo về kỹ năng mềm như kỹ năng về ngoại ngữ, làm việc theo nhóm, kỹ năng về pháp luật,… để làm việc tốt hơn. Việc nâng cao trình độ không chỉ một lần, mà quan điểm là học tập suốt đời, liên tục để đáp ứng được nhu cầu công việc và đòi hỏi của thị trường lao động.

Đối với doanh nghiệp, cần tổ chức tốt và quan tâm đến vấn đề đào tạo. Căn cứ vào tính chất, đặc điểm, cơ cấu của doanh nghiệp để đào tạo phù hợp và thường xuyên. Cũng đề nghị với doanh nghiệp cần phối hợp chặt chẽ với các cơ sở đào tạo, thực hiện phương châm 3 cùng trong đào tạo đối với doanh nghiệp rất quan trọng:

Cùng thứ nhất là cùng tuyển sinh, nhu cầu của doanh nghiệp thế nào, thì doanh nghiệp cùng với cơ sở đào tạo tuyển sinh đối tượng hoặc doanh nghiệp muốn đào tạo bổ túc, nâng cao tay nghề cho người lao động thì cùng với cơ sở đào tạo tuyển sinh.

Cùng thứ hai là cùng đào tạo về việc xây dựng giáo trình, cơ sở vật chất, giáo viên.. Tất cả những khâu này các doanh nghiệp và cơ sở đào tạo phải cùng nhau.

Cùng thứ ba là cùng giải quyết việc làm cho người lao động.

Về trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, các cơ quan liên quan đến đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao cũng như sử dụng, đãi ngộ đối với vấn đề phát triển nhân lực sẽ có đánh giá, rà soát để hướng tới toàn diện lao động.

Trong báo cáo về mức độ sẵn sàng cho nền sản xuất trong tương lai do Diễn đàn Kinh tế Thế giới mới đây công bố, Việt Nam thuộc nhóm các quốc gia chưa sẵn sàng cho cuộc CMCN 4.0, chỉ xếp thứ 70/100 về nguồn nhân lực và 81/100 về lao động có chuyên môn cao. Rõ ràng rất cần những giải pháp để cải thiện chỉ số này để Việt Nam có thể đón nhận những cơ hội mà CMCN 4.0 mang lại, trong đó có vấn đề về dự báo thị trường lao động trước những tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Nhằm nắm bắt và cung cấp thông tin về những tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 để có những chính sách phù hợp hỗ trợ phát triển thị trường lao động. Xin ông cho biết, công tác dự báo thị trường lao động đang được ngành LĐ-TB&XH tiếp tục thực hiện như thế nào?

Ông Lê Quang Trung: Cuộc CMCN 4.0 sẽ tác động rất mạnh mẽ và trực tiếp vào thị trường lao động, làm thay đổi từ thâm dụng lao động sang thâm dụng về mặt trí tuệ và công nghệ. Làm biến đổi hoàn toàn đối với một số lĩnh vực về cơ cấu lao động, cung cầu lao động, tính chất của từng loại công việc. Bên cạnh đó làm thay đổi phương thức, người lao động từ chỗ tìm việc làm sang tự tạo việc làm và khởi sự doanh nghiệp. Từ việc làm lặp đi lặp lại đến đòi hỏi việc làm đó phải có trí tuệ. Từ chỗ việc làm mang hàm lượng chất lượng thấp sang chất lượng cao. Trước bối cảnh như vậy, Bộ LĐTB&XH đã chủ động nghiên cứu, đánh giá những tác động chính vào thị trường lao động để chuẩn bị phương án, giải pháp hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động. Trong đó, những ngành thông dụng lao động như dệt may, da giày, chế biến, thủy sản, gia công các mặt hàng,... là những ngành sẽ bị tác động nhiều nhất, ngoài ra còn có nông nghiệp, trồng trọt, chăn nuôi,…

Để chủ động với cuộc CMCN 4.0, chúng ta cần có những giải pháp:

Thứ nhất, từng ngành, từng lĩnh vực phải nghiên cứu, dự báo nhu cầu và sự phát triển của khoa học công nghệ, trí tuệ để đưa ra phương án dự báo về vấn đề nhân lực.

Thứ hai, khẩn trương tổ chức các phương án đào tạo chuyên môn, công nghệ, kỹ năng mềm và các nhu cầu cần thiết cho người lao động

Thứ ba, xây dựng các biện pháp, cơ chế, chính sách hỗ trợ người lao động, người sử dụng lao động trong quá trình hội nhập. Đồng thời phải có những biện pháp giải quyết đối với người lao động (muốn hoặc không muốn) bị sa thải trong cuộc CMCN 4.0 về chính sách tự tạo việc làm, chính sách hỗ trợ trong đó có chính sách về BHTN.

Rõ ràng với những chuyên gia từ nước ngoài làm việc tại Việt Nam, khi mà Việt Nam cần sử dụng những nhân sự lao động như vậy, chúng ta cần phải trả mức lương rất là cao. Tuy nhiên những doanh nghiệp đặt tại Việt Nam và bản thân những nhân lực ở Việt Nam có thể đáp ứng được, ví dụ như phần mềm hay IT, chúng ta đáp ứng rất là tốt nhưng mức lương không cao. Vậy chúng ta có khung pháp lý hay chính sách nào để nâng cao mức lương của lao động Việt Nam đối với các doanh nghiệp nước ngoài đặt tại Việt Nam thưa ông?

Ông Lê Quang Trung: Doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam làm việc và lao động Việt Nam đều thuộc đối tượng áp dụng của Bộ luật Lao động, không có sự phân biệt giữa lao động nước ngoài và lao động Việt Nam. Về mặt tiền lương để trả cho lao động nước ngoài, có một điểm rất đáng lưu ý trong trường hợp trên, chúng ta phải nắm rất chắc các quy định của pháp luật về vấn đề tuyển lao động và thông báo tuyển lao động. Theo Nghị định 03, việc tuyển lao động phải thông báo hết sức cụ thể, chi tiết về nhu cầu tuyển, vị trí tuyển, mức lương tuyển, điều kiện làm việc,.. phải được thông báo công khai. Cơ quan nhà nước sẽ kiểm soát theo thông báo công khai này. Mức lương dự kiến trả cho người lao động nước ngoài như thế nào thì trả cho người lao động Việt Nam như vậy. Nếu doanh nghiệp, tổ chức làm không đúng vấn đề này là vi phạm pháp luật

Năm 2018 sắp kết thúc phía trước của chúng ta là cả giai đoạn tiếp theo với nhiều những biến động. Xin ông chia sẻ những dự báo của mình về thị trường lao động Việt Nam trong năm 2019?

Ông Lê Quang Trung: Trên cơ sở năm 2018 chúng ta đạt được những thành tựu rất tốt về kinh tế, xã hội và thị trường lao động. Chúng tôi hy vọng năm 2019 sẽ tiếp tục đà phát triển của năm 2018. Thị trường lao động sẽ tiếp tục chuyển biến theo hướng tích cực, đó là:

Thứ nhất, cung cầu sẽ gặp nhau ở mức hợp lý nhất.

Thứ hai, nhu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp tăng lên, đặc biệt đối với doanh nghiệp có nhóm lao động trình độ cao.

Thứ ba, tiếp tục phân luông, chuyển luồng trong đào tạo, tiếp nhận lao động. Đồng thời mối quan hệ giữa người lao động và sử dụng lao động được cải thiện tốt hơn và chặt chẽ hơn.

Năm 2019 cùng với sự phát triển về kinh tế và phát triển của lực lượng lao động, công tác đào tạo nghề, sự chỉ đạo, hướng dân của ngành LĐTB&XH cùng các ngành, địa phương thì thị trường lao động tiếp tục phát triển theo hướng tích cực và đúng hướng với thị trường. Đây cũng là điều năm 2019 chúng ta sẽ hướng tới. Tuy nhiên để làm được điều này, có những vấn đề đặt ra như sau:

Thứ nhất, hiện nay chúng ta hội nhập rất sâu rộng và sự tác động của các nước trên thế giới sẽ tác động trực tiếp đến chúng ta, đặc biệt là thị trường lao động.

Thứ hai, đẩy mạnh sự phối kết hợp, nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực. Tăng cường công tác đào tạo nói chung, đào tạo nghề hướng nghiệp nói riêng. Đẩy mạnh từ địa phương, từ các ngành, sự phối hợp giữa cơ sở đào tạo và đơn vị sử dụng lao động.

Thứ ba, tăng cường công tác dự báo thông tin về thị trường lao động,

Thứ tư, đẩy mạnh các hoạt động về dịnh vụ việc làm, tư vấn giới thiệu, thông tin thị trường lao động, thực hiện tốt các bảo hiểm thất nghiệp

Thứ năm, phải có biện pháp, chính sách để sử dụng một cách tốt nhất các nhóm lao động đặc thù, nhóm lao động cần quan tâm ví dụ lao động người khuyết tật, lao động vùng dân tộc thiểu số, lao động thuộc các hộ nghèo, lao động người cao tuổi…Cụ thể với nhóm những người cao tuổi, hiện nay chúng ta trên 12 triệu người cao tuổi, tận dụng cơ sở, những thế mạnh của người cao tuổi để chúng ta sử dụng hoặc nhóm những người ở mức độ trung tuổi.

Thưa ông để tiếp tục triển khai tốt các chính sách về lao động – việc làm nhằm hỗ trợ phát triển thị trường lao động, tạo việc làm cho người lao động  góp phần đảm bảo an sinh xã hội  tạo động lực cho phát triển kinh tế-xã hội. Xin ông cho biết những định hướng nào sẽ được Bộ thực hiện trong thời gian tới?

Ông Lê Quang Trung: Về lâu dài, lĩnh vực lao động việc làm gắn rất chặt với sự phát triển kinh tế xã hội. Phát triển kinh tế xã hội là cơ sở để thị trường lao động định hướng theo. Chính vì vậy, phát triển các lĩnh vực, ngành nghề là yếu tố mang tính chất quyết định trong thị trường lao động hiện nay.

Thứ nhất, những ngành nghề vừa sử dụng lao động có chất lượng cao vừa phải phát triển ngành nghề để nâng cao chất lượng việc làm. Đồng thời đối với lĩnh vực, ngành nghề đòi hỏi trình độ ở mức hợp lý thì chúng ta cần có biện pháp để hỗ trợ.

Thứ hai, tăng cường chính sách, quan hệ lao động trong tương lai ổn định, tạo điều kiện thông thoáng hơn trong quá trình làm việc.

Thứ ba, cần phải tính đến các chương trình, dự án rất cụ thể chó từng nhóm đối tượng một.

Thứ tư, tổ chức tốt hơn, đảm bảo đúng vai trò vị trí của các cơ quan dịch vụ việc làm, thực sự là cầu nối, đơn vị sự nghiệp công hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận.

Thứ năm, tăng cường các hoạt động để hỗ trợ, tạo điều kiện cho các nhóm đối tượng lao động ở khu vực phi chính thức, khu vực nông nghiệp, khu vực mà không có quan hệ lao động trở thành khu vực chính thức, khu vực có quan hệ lao động.

Đây là những định hướng quan trọng để chúng ta hướng tới trong tương lai.